Việt
Nam: Trận chiến giành sự thật lịch sử
Vietnam: The battle for historical truth
Richard Botkin
(Trần Ngọc Huệ dịch)
Nhân dịp kỷ niệm lần thứ
38, xác định lại sự thật về cuộc chiến Việt Nam.
Ba
mươi tám năm trước đây, hôm nay, cuộc chiến tranh Việt Nam, đối với người Mỹ,
đã chính thức kết thúc trong ô nhục và không vẻ vang. Đối với hàng triệu người
Việt Nam yêu chuộng tự do bị bỏ lại, kết thúc của “chiến tranh chống Mỹ” đơn
giản là sự bắt đầu của một chuỗi thời gian dài gần như vô tận, đầy tăm tối, và
đau khổ.
Những
người trong chúng ta đủ tuổi để biết đến ngày 30 tháng Tư năm 1975, sẽ mãi mãi
nhớ những bản tin cuối cùng từ Sài Gòn bị át đi vì đoàn quân bộ binh và thiết
giáp của Cộng sản Bắc Việt, với hình ảnh của đám đông vô vọng, cố gắng len chân
vào các chuyến tản cư của Mỹ, hình ảnh của tàu hải quân Mỹ ngoài khơi đầy người
tị nạn, và trên sàn tàu tràn ngập máy bay trực thăng đang được đẩy xuống biển
sâu – hình ảnh nhũng chiếc trực thăng chìm dần trong biển cả được so sánh với
sự phí lạm lớn lao máu xương và của cải của người Mỹ. Và kể từ buổi hoàng hôn
hôm đó những vết thương chiến tranh Việt Nam đã không bao giờ hoàn toàn lành
lặn hay đã được ghi lại trong tiềm thức bằng những quan điểm thích đáng.
Tank của CSVN tiến vào
Dinh Độc Lập, 30-04-1975. Ảnh AP.
Đánh
giá tình hình, nhiều năm sau đó, là một chính khách đã nghỉ hưu từ lâu và một
phần đã được phục hồi danh dự, Richard Nixon, người sẽ cho chúng ta một nhận
định chỉ có hai dòng, có thể xem đây là một nhận xét có ý nghĩa nhất, về kinh
nghiệm của chúng ta tại Việt Nam khi ông nói:
“Không
có sự kiện nào trong lịch sử nước Mỹ bị hiểu lầm hơn so với chiến tranh Việt
Nam. Nó đã được đưa tin sai lạc lúc đó, và giờ đây nó lại được biết đến một
cách sai lầm.”
Chúng
ta đang mất nhanh dần đi thế hệ của những người đã chiến đấu trong chiến tranh
Việt Nam. Họ lần lượt qua đời – và trong nhóm này cũng phải kể đến hàng triệu
người Việt Nam tị nạn cộng sản đến sống trên đất nước này – những nhân chứng
lịch sử ngôi thứ nhất, và khả năng nói lên sự thật, để thảo luận về những thiếu
sót nghiêm trọng về lịch sử hoặc bác bỏ vô số những huyền thoại, một nửa sự
thật và những lừa dối trắng trợn về cuộc chiến tranh đang tràn lan khắp nơi và
phần lớn không gặp một thách đố nào và hiện đang được xem như là những sự thực.
Lịch sử loại đó đã được viết bởi những tác giả, những người chống lại sự tham
gia của Mỹ trong chiến tranh, nhiều người đó đã ngồi trong tháp ngà ở đại học,
trốn quân dịch – là những người hiện nay đang giữ vai trò kiểm soát các ngành
lịch sử ở các trường đại học trên toàn quốc và cũng là những người có ảnh hưởng
lớn với các phương tiện truyền thông .
Ít
người có thể tranh cãi rằng thế hệ của những người đem lại chiến thắng của Mỹ
trong Thế chiến II – đã được mô tả là thế hệ vĩ đại nhất – đã làm được một việc
tuyệt vời. Tuy nhiên, điều khó hiểu được là “Thế hệ Việt Nam” đã không được
định nghĩa bởi những chiến sĩ đã lặng lẽ và vinh dự đứng lên đáp lời sông núi,
nhưng lại do những người đàn ông và đàn bà đã tham gia tích cực trong phong
trào phản chiến và, trong khá nhiều trường hợp, thực sự họ là cái loa cho kẻ
thù của chúng ta mà không phải chịu một hậu quả nào.
Và
lịch sử đã nói nói hay biết gì về những đồng minh Việt Nam của chúng ta? Là
người Mỹ, chúng ta có thể đến Washington, DC, để đọc và chạm tay vào tên của
mỗi người trong số 58.187 chiến binh và tám phụ nữ đã hy sinh tại Việt Nam.
Trong khi các con số có thể không chính xác lắm, bạn đồng minh Nam Việt Nam của
chúng ta đã hy sinh ít nhất gấp năm lần số tử vong của Mỹ, và Việt Nam khi đó
là quốc gia chỉ có một phần mười dân số so với Hoa Kỳ. Hàng chục ngàn người
khác – đa số là sĩ quan quân đội trước đây – đã không thoát nổi những gì cộng
sản mỹ từ hóa gọi là “Trại Cải tạo”. Những con số này không kể hàng trăm ngàn
thường dân vô tội đã chết cũng như hàng triệu người ly tán không nhà cửa, hầu
hết họ bị đầy đoạ dưới bàn tay hung bạo của cộng sản. (Thí dụ tồi tệ nhất là
những cuộc pháo kích vào thường dân ở tỉnh Quảng Trị trong cuộc tấn công Mùa Hè
đỏ lửa năm 1972 và sau đó một lần nữa trên một phạm vi quy mô, và lớn hơn nhiều
trong cuộc tấn công cuối cùng vào mùa Xuân năm 1975 tại nhiều nơi trên khắp
Việt Nam.) Thêm vào đó, có khoảng 250.000 người đã thiệt mạng trên đường vượt
biển chạy trốn thiên đường cộng sản sau năm 1975. Và những con số này chỉ riêng
cho dân quân Việt Nam Cộng Hoà (VNCH). Không kể đến hàng triệu người đã bị
Khmer Đỏ sát hại dã man tại Campuchia, hoặc hàng trăm ngàn người thiểu số vùng
cao nguyên của Lào và Thái Lan. Đám quần chúng vô danh đó không được kể đến
cùng những hy sinh to lớn của họ hầu hết đã, một cách thuận lợi, bị gạt ra
ngoài các trang lịch sử.
Chắc
chắn là điều vô ích để hâm lại câu hỏi “Nếu …?” trong lịch sử – Nhưng điều quan
trọng là mọi người cần hiểu rằng đồng minh Nam Việt Nam của chúng ta đã cận kề
với chiến thắng, hoặc ít nhất là cũng giữ được chân kẻ xâm lược miền Bắc, sau
khi cuộc rút quân của Mỹ đã hoàn tất. Nhiều người Mỹ hẳn còn nhớ cuộc Tổng tấn
công Tết Mậu Thân 1968 khi đó lực lượng đồng minh đã gây ra thương vong đáng kể
cho lực lượng của Hồ Chí Minh. Trong khi Tết Mậu Thân 68 là một chiến thắng
chiến thuật cho khối đồng minh thì cộng sản đã thành công trong việc phá vỡ ý
chí chính trị của người Mỹ để tiếp tục chiến tranh mở ngỏ. Điều này đã dẫn đến
chương trình “Việt Nam hóa” chiến tranh và sau cùng là cuộc rút lui của Mỹ.
Phong trào phản chiến tại
Hoa Kỳ. Ảnh OntheNet.
Trong
khi chính khách, tướng lĩnh và quân nhân Việt Nam, trong suốt cuộc chiến và sau
đó, hầu như đều được miêu tả là những con hạm tham nhũng, vô hiệu và không muốn
chiến đấu, là một điều kỳ lạ đã xảy ra trên đường Việt Nam hóa chiến tranh. (Nếu
ai đã từng đặt vấn đề về ý chí chiến đấu của đồng minh Việt của chúng ta thì
con số thương vong của họ đã nói lên tất cả những gì cần để nói về chương trình
“Việt Nam hóa” chiến tranh.) Những điểm này đã được ghi nhận sâu rộng trong
giới lãnh đạo quân sự của Mỹ, từ Tướng Creighton Abrams (Abrams là sĩ quan cao
cấp của Mỹ – MACV – trong Việt Nam 1968–72) xuống cấp cố vấn cơ sở rằng khả
năng quân sự của Việt Nam Cộng Hòa cải thiện rõ rệt trong quá trình rút quân
của Mỹ. Không có ai thấy sự cải thiện đó rõ ràng và lo ngại hơn là những người
vẽ kế hoạch chiến tranh tại Hà Nội.
Thử
thách lớn nhất của chương trình Việt Nam hóa là cuộc tổng tấn công Mùa Hè đỏ
lửa năm 1972. Với số quân ít nhất nhiều gấp hai lần số quân chính quy đã có
trong cuộc tổng tấn công Tết Mậu Thân 1968, cùng một số lượng lớn xe bọc sắt,
pháo binh và súng phòng không mới nhất do Xô Viết viện trợ, cuộc tấn công ba
mũi nhọn nhằm đánh ngón đòn trực tiếp cuối cùng. Cuộc tấn công thất bại. Lực
lượng Việt Nam Cộng Hòa, sau khi lãnh những cú sốc ban đầu, phản công mạnh.
Trong các mặt trận đẫm máu kẻ xâm lược bị đánh dội trở lại. Ngoại trừ phần phía
bắc lãnh thổ VNCH, gần vùng phi quân sự, lực lượng Việt Nam Cộng Hòa đã lấy lại
tất cả các phần lãnh thổ bị chiếm đóng trước đó.
Giữa
cuộc tấn công Mùa Hè đỏ lửa năm 1972 đến cuối năm 1973, rất nhiều trận chiến đã
diễn ra giữa hai phe quốc cộng. Hiệp định Paris, bảo đảm cho Mỹ sẽ được đón tù
binh chiến tranh, và một ngõ thoát “danh dự”, là một trò hề. Mặc dù sự xảo trá
của cộng sản và họ vi phạm hiệp ước từ ngày đầu, triển vọng cho Việt Nam Cộng
Hòa vẫn còn khá tốt. Vào cuối năm 1973, chiến thắng của phe cộng sản không phải
là một việc đã rồi. Những cố vấn Mỹ, trong số những người cuối cùng rời khỏi
Việt Nam, phần lớn đều tin tưởng rằng Việt Nam Cộng Hòa có thể một mình đứng
vững miễn là họ được viện trợ đầy đủ.
Buồn
thay, lực lượng Việt Nam Cộng Hòa cuối cùng bị thua không phải trên chiến
trường nhưng tại phòng họp của Quốc hội Mỹ. Vào giữa năm 1973 Quốc hội thông
qua luật hạn chế khả năng Tổng thống của Nixon để đối phó với hành vi vi phạm
hiệp ước của phe cộng sản và có thể tôn trọng các cam kết cá nhân của ông như
đã hứa với Tổng Thống Thiệu. Ngoài ra, viện trợ quân sự và tài chính năm 1974,
trực tiếp cho đồng minh của chúng ta đã bị cắt giảm 32 phần trăm so với mức của
năm 1973, và, cũng thế, bị cắt một lần nữa cho năm tài chính 1975. Sức mua
tương đương thực tế (cần nhớ lại các lệnh cấm vận dầu Ả Rập và lạm phát do giá
nhiên liệu tăng cao trong năm 1973 và 1974), làm việc cắt giảm trở nên khắc nghiệt
hơn. Phía cộng sản Bắc Việt không có những hạn chế đó vì Liên Xô và Trung Quốc
thực sự đã tăng gấp đôi viện trợ CSVN trong cùng giai đoạn. Vào cuối năm 1974
và đầu năm 1975, các đơn vị quân đội Việt Nam Cộng Hòa đã ra chiến trường với
những hạn chế về hậu cần khiến họ chắc chắn sẽ gặp thất bại. Trong khi chúng ta
không thể nói chắc chắn rằng nếu họ đã được tiếp vận đầy đủ họ sẽ thắng hoặc ít
nhất là tăng nâng cao giá của chiến thắng vượt quá khả năng chi trả của Hà Nội,
chúng ta biết chắc chắn rằng bằng cách cắt đứt viện trợ cho miền Nam Việt Nam,
chúng ta đã bảo đảm sự sụp đổ của Việt Nam Cộng Hòa.
Rất
ít người ngoài cộng đồng người Mỹ gốc Việt quan tâm nhớ lại hoàn cảnh đuua đến
sự bại trận là một điều chắc chắn. Có lẽ đó là câu chuyện quan trọng nhất chưa
bao giờ được thực sự kể lại về sự kết thúc của cuộc chiến Việt Nam.
Kết
thúc của chiến tranh … cuộc chiến giành lại sự thật lịch sử.
Chúng
ta đang mất đi những chiến binh thuộc “Thế hệ Việt Nam” tại một mấu chốt đáng
lo ngại, và cách người Mỹ sẽ nhớ về cuộc chiến tranh Việt Nam vẫn còn bất định.
Khi họ “ra đi” thì người ta cũng mất những cơ hội để nói thật, nói thẳng về sự
ngăn cản chủ nghĩa cộng sản và việc chống đỡ các quân cờ domino ở châu Á. Sự
quyết tâm chung của Mỹ và Nam Việt Nam đã mua được đoạn thời gian quan trọng
cho phần còn lại của Châu Á đang phát triển, và có thể ở những nơi khác, để xây
dựng và phát triển nền kinh tế thị trường tự do. Và đây không chỉ là quan điểm
riêng của Mỹ, nhưng còn là nhận xét từ những người như Lý Quang Diệu ở
Singapore, khó có thể nói là một tay sai của Mỹ. Những hạt giống của nỗ lực đó,
nằm yên vào cuối tháng Tư năm 1975, đã đưa đến một vụ mùa bội thu tự do và
thịnh vượng, gần 40 năm sau đó.
Ở
Việt Nam hôm nay, dù vẫn là một quốc gia cộng sản, đi dạo xung quanh trung tâm
thành phố Sài Gòn người ta dễ dàng tìm thấy hình ảnh tiệm thịt gà chiên
Kentucky hơn là thấy băng rôn Hồ Chí Minh hô hào công nhân đi làm cách mạng.
Chủ nghĩa tư bản và thị trường tự do đang rõ ràng tiến lên cao. Đó chính là
bằng chứng cho thấy những nỗ lực của chúng ta để đưng về bên phải của lịch sử.
Cuộc
chiến giành lấy con tim và trí tuệ vẫn chưa kết thúc. Đã quá lâu, sự mô tả
những nỗ lực của chúng ta để ngăn chặn làn sóng đỏ là viển vông, đơn giản, lỗi
thời. Những chiến binh Mỹ trong cuộc chiến Việt Nam đã bị gạt ra ngoài lề xã
hội, xem như kẻ bị lừa, bị trì độn, và là những nạn nhân, chứ không phải là
những người danh dự, hào hùng và thắng trận. Chân dung của người đồng minh Nam
Việt của chúng ta đã, đang và phần lớn vẫn hoàn toàn bị làm cho sai lạc đi, bị
ghi chép không đúng cách trong vô số sách vở và phim ảnh – nghệ thuật và tiểu
thuyết được trình bày như thực tế qua các cuốn phim thái quá như “Deer Hunter”,
“Apocalypse Now”, “Platoon” và ngay cả “Rambo”. Hiển nhiên, những người chiến
sĩ Hoa Kỳ đáp lời sông núi và đồng minh Nam Việt kiên quyết của chúng ta phải
có một vị trí xứng đáng và tốt hơn trong lịch sử.
Đồng minh: Harry” Tran Ngoc Hue và Australian WO2
Barry Long. Ảnh: axishistory.com.
Richard
Botkin là tác giả của “Cưỡi Sấm: Câu chuyện chiến tranh Việt Nam – Danh dự và
Chiến thắng”, mà hiện nay đang được thực hiện thành một phim tài liệu dài đầy
đủ. Mục đích của dự án này là để thay đổi cách thế giới nhớ lại cuộc chiến Việt
Nam, đơn giản bằng cách nói lên sự thật




Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét