SỰ HỐI
HẬN MUỘN MÀNG
Duyên-Lãng Hà Tiến Nhất
Trước khi Khmer Đỏ vào Phnom Penh, ngày 12-4-1975, ông Đại Sứ Mỹ tại Cambodia,
John Gunther Dean, đưa ra đề nghị mời các giới chức hàng đầu trong Chính Phủ Cộng
Hòa Khmer đi tỵ nạn tại Mỹ, nhưng các ông Sirik Matak, Long Boret, và Lon Non ,
cùng với các thành viên trong Nội Các Lon Non từ chối, mặc dù các ông Long
Boret và Sirik Matak đã có tên trong danh sách tử hình “7 Kẻ Phản Bội’ của
Khmer Đỏ. Ông Sirik Matak viết thư trả lời ông Đại Sứ Mỹ như sau:
Tôi thành thực cám ơn lá thư của ngài cùng với lời đề nghị đưa tôi đi tị nạn. Rất
tiếc, tôi không thể ra đi một cách hèn nhát như thế được. Về phần ngài và đặc
biệt về phần quốc gia vĩ đại của ngài, tôi không
bao giờ mảy may tin rằng quí vị lại có ý bỏ rơi một dân tộc đã chọn lựa tự do.
Quí vị đã từ chối bảo vệ chúng tôi và chúng tôi chẳng làm gì được. Quí vị rời bỏ
chúng tôi và tôi xin cầu mong cho ngài và đất nước của ngài tìm được hạnh phúc
dưới bầu trời. Xin ngài ghi nhớ điều này là, nếu tôi có chết ngay lập tức tại
đây trên quê hương của tôi mà tôi yêu dấu, thì đó là điều quá tồi tệ, bởi vì tất
cả chúng ta đều sinh ra và một ngày nào đó phải chết. Tôi chỉ phạm phải một sai lầm là đã tin vào quí ngài, những
người Mỹ. Thưa ngài Đại Sứ, người bạn quí mến của tôi, xin ngài
nhận nơi đây tình cảm chân thành và tha thiết của tôi.
Hoàng Thân Sirik Matak (*)
Thủ
tướng Cam Bốt Sirik Matak và cả chính phủ của ông Lon Non vì tin vào Mỹ nên mất
nước và bị Khmer Đỏ phanh thây. Nhiều người VN cho đến bây giờ vẫn còn trông chờ
Mỹ giúp họ đánh đuổi VGCS. Nhân mùa Quốc Hận tưởng niệm ngày 30-4-1975, nhắc lại
sự kiện Sirik Matak để học hỏi và tìm hiểu xem người Mỹ thực sự chống cộng sản
ra sao thiết nghĩ cũng chẳng phải là chuyện vô bổ. Người viết xin mở một dấu
ngoặc để lưu ý bạn đọc. Chữ “người Mỹ” chúng tôi dùng trong bài là để chỉ chính
quyền và các tập đoàn tư bản Mỹ chứ không nói nhân dân Hoa Kỳ.
Mỹ và Liên Sô
Tháng 5-1943, quân đội Đồng Minh đã đẩy được quân Đức Quốc Xã ra khỏi Phi Châu.
Sau đó một tháng, Đồng Minh đổ bộ lên đảo Sicily, và ngày 3-9 các lực lượng Đồng
Minh chiếm toàn bộ nước Ý. Nhưng đột nhiên và bất ngờ, quân Đồng Minh bị buộc
phải dừng lại chỉ còn cách biên giới phía Nam nước Đức vài trăm dặm. Guồng máy
chiến tranh kinh khủng -danh từ đại tướng Mark Clark thường gọi quân Đồng Minh-
tiến lên hướng Bắc xuyên qua Ý kéo dài cuộc chiến đấu mấy tháng trời vô lý
không thể tan vỡ được. Trong cuốn sách viết năm 1950 “Calculated Risk”, ông
tuyên bố: “Một chiến dịch có thể làm thay đổi lịch sử liên hệ giữa Tây Phương
và Nga Sô đã bị mờ dần. Đó là những quyết định từ cấp thượng tầng và vì những
lý do ngoài thẩm quyền và hiểu biết của tôi. Không phải theo ý kiến của tôi, mà
của một số các chuyên gia cận kề với vấn đề, việc giảm cường độ chiến dịch tại
Ý, thay vì tiến quân vào Balkan, là một trong các lầm lỗi chính trị nổi bật của
cuộc chiến.” Sự trì hoãn được giải thích là để tập trung quân đánh vào miền Bắc
nước Pháp 9 tháng sau đó, thực ra đã cho Liên Sô có thì giờ thanh toán quân đội
Đức trong chiến dịch Barbarossa đã bị đánh tơi tả để tiến về phía Tây Âu.
Quyết
định rút các sư đoàn tác chiến khỏi mặt trận Ý Đại Lợi ngay lúc họ có thể thọc
mũi dùi vào chỗ hiểm yếu của quân Đức đã được hoạch định từ Hội Nghị Đồng Minh ở
Quebec năm 1943. Ở đó Churchill muốn từ phía Nam tấn công thẳng vào nước Đức,
chiếm Trung Âu và vùng Balkan trước khi các vùng này kịp rơi vào chế độ nô lệ đỏ.
Nhưng Churchill đã bị Hoa Kỳ gạt đi. Hoa Kỳ nhấn mạnh rằng, những đơn vị rút khỏi
Ý sẽ được sử dụng để đổ bộ Pháp lần thứ hai. Sau cuộc đổ bộ lên Normandy nước
Pháp tháng 6-1944, quân Đồng Minh được đặt dưới quyền chỉ huy của Eisenhower, một
vị tướng mà hoạn lộ như diều gặp gió và là chuẩn thành viên của Hội Đồng Liên Lạc
Ngoại Giao CFR (Council on Foreign Relations). Ông tướng trận này được cố vấn bởi
Bernard Baruch, một nhà tài chánh, cố vấn của các TT Wilson và Roosevelt thời Đệ
I và Đệ II Thế Chiến. Hiểu rõ được sự liên hệ này, người ta có thể hiểu được cuộc
chiến, và lý do tại sao Đông Âu lại được trao cho Liên Sô.
Tướng
Wrangel chỉ huy đoàn quân Bạch Nga ở miền Nam đang chiến thắng bọn Bolsheviks
thì được lệnh từ phía Đồng Minh buộc phải rút lui về khu vực Biển Đen và bỏ nước
Nga. Nếu từ chốị ông sẽ bị cắt đứt tiếp liệu và quân lính sẽ bị nguy hiểm. Những
nhân viên tình báo Đồng Minh phá hủy những máy bay mà ông tự sắm lấy. Tướng
Wrangel rơi vào tình trạng bó buộc phải từ bỏ việc giải phóng nước Nga.
Thống
chế Kolchak cũng ở vào tình trạng tương tự. Ông lãnh đạo lực lượng chống cộng tại
mặt trận phía Đông. Ông cũng bị cắt đứt tiếp tế trong khi đang chiến thắng Hồng
Quân Liên Sô.
Trên
mặt trận miền Đông, quân Liên Sô được tự do. Sự tiến quân của Nga chạy đua với
các lực lượng Tây Âu, mặc dù các lực lượng này, dưới quyền chỉ huy của tướng
Eisenhower, bị giữ chân ở nhiều điểm như Prague chẳng hạn. Sự thể đã cho phép
Liên Sô đoạt được những vùng mà lực lượng Hoa Kỳ có thể chiếm giữ trước một
cách dễ dàng. Tuớng Patton cũng như tướng Clark của Đồng Minh đều không tưởng
tượng được tại sao các miền Đông Âu lại bị nhường cho quân đội Nga.
Nhưng chuyện bí mật vĩ đại này không thể che giấu được dưới ánh sáng mặt trời.
Lý do là vì Hội Đồng Liên Lạc Ngoại Giao CFR (Council on Foreign Relations) giữ
một vai trò trọng yếu trong nền chính trị Hoa Kỳ. Người ta nói Hội Đồng là người
ngồi ghế tài xế của chiếc xe. Mục sư Jim Shaw, một cựu hội viên Hội Tam Điểm bậc
33 sau khi rút lui khỏi hội Tam Điểm, trong một cuộc phỏng vấn năm 1989 đã tiết
lộ về bức tranh nổi tiếng Roosevelt, Churchill, và
Stalin tại Hội Nghị Yalta. Ông nói, bởi vì cả ba tay tổ này lúc đó đều là hội viên của hội Tam Điểm (Masonry.)
Có một
ngưòi nào đó, người viết không nhớ tên, khẳng định: Có thể nói không ngoa rằng
Liên Bang Sô Viết được dựng lên từ Hoa Kỳ. Thật vậy, có rất nhiều chứng cớ cho
thấy, các Cơ Sở (Foundation) Ford, Rockefeller, và Carnegie đã yểm trợ cho cái
gọi là cuộc Cách Mạng Vô Sản tại Nga và tài trợ cho CS Liên Sô.
- Tờ New York
Journal-American ngày 3-2-1949 tiết lộ, Jacob Schiff đã đổ vào cho chiến thắng
cuối cùng của cách mạng Bolshevik 20 triệu dollars. Ngoài ra có nhiều phát giác
về các tập đoàn tư bản Hoa Kỳ làm ăn với Liên Bang Sô Viết trong thời chiến cũng
như trong thời bình.
- Trong cuộc điều trần
năm 1953, khi nghị sĩ Norman Dodd khi đọc bản báo cáo viết rằng các nhà kỹ nghệ
Hoa Kỳ đã thu được khoảng 200 triệu lợi nhuận từ cuộc Thế Chiến II, ông đã muốn
té nhào khỏi chiếc ghế. Ông nói: Sau Thế Chiến I, Quĩ Dự Trữ Liên Bang đã cho nền
độc tài Sô Viết vay 200 triệu khi chúng mới lên nắm quyền. Và ông tự hỏi, tại
sao những nhà giầu trong thế giới tài chánh lại ủng hộ CS là chế độ công khai
muốn tiêu diệt thế giới tư bản. Còn tác giả Phyllis Schlafly viết: Tôi càng
nghiên cứu càng cảm thấy hồ đồ (confused), không hiểu tại sao những người càng
giầu có càng thích làm việc với kẻ thù của chúng ta.
Tổng
thống Roosevelt tuyên bố vói Martin Dies, chủ tịch một Ủy Ban Đặc Biệt Hạ Viện
Hoa Kỳ, và được ông này tường thuật lại trước Hạ Viện rằng, Tổng Thống không
tin vào CS cũng như chúng ta, nhưng theo ông, không có gì sai trái về những người
CS trên xứ sở này. Một số bạn thân nhất của tổng thống cũng là CS …. Quả thật về
sau, viên cố vấn hàng đầu của TT Roosevelt, Alger Hiss, thành viên CFR,
đã bị toà án kết tội làm tình báo cho Liên Sô.
Mỹ và Trung Cộng
Phần
đông người ta đã quên những chuyện kỳ lạ xẩy ta dưới thời TT Harry Truman (người
kế vị TT Roosevelt). Trước hết, sau khi ông ký Hiến Chương Liên Hiệp Quốc, bản
văn thừa nhận cơ quan quốc tế này là một Chính Phủ Toàn Cầu. Sau đó ông nhường
quyền kiểm soát Đông Âu và Trung Hoa cho CS. Khi công luận bắt đầu nêu thắc mắc
tại sao ông phản bội hàng trăm triệu con người để làm thân phận nô lệ, thì ông
đã đưa đẩy rằng cuộc chiến tại Á Châu không thắng được. Khi đại tướng MacArthur
nói với một vị dân biểu rằng ông không được phép chiến thắng trong cuộc chiến
Triều Tiên, thì TT Truman cách chức tư lệnh của ông. Tướng Lâm Bưu, tư lệnh
quân đội Trung cộng tham chiến tại Bắc Triều Tiên thừa nhận rằng đã có một thỏa
thuận bí mật ngăn chận quân lực Mỹ chiến thắng tại Triều Tiên. Lâm Bưu viết:
Tôi không bao giờ tấn công để phải hy sinh binh sĩ và danh tiếng của tôi, nếu
tôi không được bảo đảm rằng Washington hạn chế những biện pháp trả đũa tương xứng
của tướng MacArthur nhắm vào những tuyến đường tiếp liệu và truyền tin của
chúng tôi.
Cuối
năm 1945, khi tướng Marshall đi Trung Hoa, cán cân quyền lực nghiêng về phía quốc
gia, và giữ nguyên cho đến tháng 6-1946. Những sư đoàn của Tưởng Giới Thạch
đang dồn CS về phía Bắc và cơ hội chiến thắng của phía quốc gia cao hơn bao giờ
hết. Nhưng, khi tướng Marshall tới Trung Hoa, ông có ý định thành lập sự phối hợp
chỉ huy. Kế hoạch bị thất bại khi liên minh thất bại. Khi chính quyền Trung Hoa
không thực hiện sự liên minh, thì vào mùa hè 1946, Hoa Kỳ chấm dứt viện trợ
quân sự cho Trung Hoa. Hoa Kỳ không chỉ ngưng gởi tiếp tế quân dụng cho Trung
Hoa, mà còn ra lệnh ngưng các chuyến tầu chở quân dụng do chính phủ Trung Hoa
đã mua. Chính phủ Trung Hoa cũng đã mua các quân dụng ở Okinawa và nhiều nơi
khác trên Thái Bình Dương. Những hàng hoá này cũng bị đình chỉ, và lệnh cấm vận
hoàn toàn có hiệu lực vào mùa hè năm 1946. Lệnh này kéo dài tới tháng 5-1947.
Tướng Chennault xác nhận rằng chuyến tầu đầu tiên chỉ đến Thượng Hải tháng
12-1948. Hơn nữa ông tướng này còn quả quyết rằng các chiến cụ đuợc gởi đến
Trung Hoa sau lệnh cấm vận đã không được chở tới đúng lúc để giúp quân đội quốc
gia ở ngoài chiến trường. Thống chế Cook xác nhận nhiều sư đoàn của Tưởng Giới
Thạch đưọc trang bị bằng vũ khí của Hoa Kỳ. Khi nguồn tiếp liệu do Hoa Kỳ bị
ngưng, các đơn vị này không còn sức chiến đấu và bị đánh bại. Dù sau khi Quốc Hội
Khóa 80 đã chấp thuận viện trợ 125 triệu cho phe quốc gia, các chuyến tầu chở
tiếp liệu vẫn bị trễ, và khi vũ khí tới được viên tư lệnh của vùng Bắc Trung
Hoa, thì súng ống lại thiếu cơ bẩm và trở thành vô dụng.
Tại
sao Bộ Ngoại Giao lại gởi vũ khí không có cơ bẩm cho người Trung Hoa quốc gia?
Đó có phải là việc làm vô tình không? Tiến sĩ Stanley Monteith viết
trong cuốn Brotherhood of Darkness: người ta
không thể đọc hết bản báo cáo của Ủy Ban Điều Tra McCarran mà không đi đến kết
luận rằng, Chính quyền Truman đã phản bội người Trung Hoa Quốc Gia để đưa Mao
Trạch Đông lên cầm quyền tại Trung Hoa.
Để
theo dõi việc cộng sản thống trị toàn Trung Hoa năm 1950, Thượng Viện Mỹ đã chỉ
định một Ủy Ban Đặc Biệt do Dân Biểu Carrol Reece cầm đầu để điều tra xem tại
sao Bộ Ngoại Giao lại ra lệnh cấm vận vũ khí cho phe Quốc Gia Tầu và đưa Mao Trạch
Đông lên cầm quyền tại Trung Hoa. Ủy Ban Điều Tra đã khám phá ra rằng hai tổ chức
Rockefeller Foundation và Ford Foundation đã tài trợ cho các chương trình phát
thanh tuyên truyền của CS nhiều năm trước khi Trung Hoa sụp đổ. Ủy Ban bèn điều
tra các tổ chức được miễn thuế này để xác định người ta tài trợ cho CS bằng
cách nào. Có nhiều khía cạnh bị điều tra, nhưng những việc liên quan trực tiếp
đến chiến tranh quốc cộng tại Trung Hoa, DB Reece khám phá ra hai sự kiện:
Thứ nhất, có nhiều tổ chức lớn
(large foundation) đã thực sự cổ võ chủ nghĩa cộng sản và Xã Hội Chủ Nghĩa.
Thứ hai, các tổ chức
(foundations) đã gây ảnh hưởng đến chính sách của Bộ Ngoại Giao, và do đó phải
chịu trách nhiệm phần lớn việc đưa CS lên nắm chính quyền tại Trung Hoa.
Một nhóm các nhà đại tư bản lập kế hoạch ngăn chận cuộc điều tra của Ủy Ban
Reece. Reece khám phá ra rằng nhũng tổ chức được miễn thuế này đã hoạt động sát
cánh với tập đoàn (trust) Rhodes. Các học giả của tập đoàn này được điều phối
vào các vị trí chiến lược trong chính quyền Hoa Kỳ. Nhiều người có thế lực đem
hết cố gắng chống lại cuộc điều tra của DB Reece. Họ áp lực lên các nhà lãnh đạo
Quốc Hội phải chấm dứt cuộc điều trần. Kết quả như ông René Wormser, cố vấn của
Ủy Ban Reece viết: Tôi cảm thấy công việc còn để lại nhiều vấn đề chưa được trả
lời, trong đó điều quan trọng nhất là, với ý đồ gì, nếu có, các tổ chức lớn lại
đem tiền bạc giúp và tiếp tay cho các khuynh hướng Marxist tại Mỹ và làm tàn lụi
đi sự yêu mến lối sống của họ mà người dân Mỹ nên có?
Mỹ
và Việt Nam
Còn câu hỏi Hoa Kỳ có thực tâm
giúp người VN chống VGCS không thì người viết khỏi cần phải dài dòng. Mỗi người
VN dù lớn hay nhỏ đều đã có đủ hiểu biết và tài liệu để tự trả lời cho chính
mình.
Thời
Đệ I Cộng Hòa, khi người Mỹ ngỏ ý muốn trực tiếp can thiệp bằng vũ lực trước vấn
đề CS miền Bắc xâm lăng VNCH. Họ muốn đổ quân đội Mỹ vào VN để đánh CS. TT Ngôi
Đình Diệm yêu cầu giữa Hoa Kỳ và Việt Nam cần phải ký kết một bản Hiệp Ước An
Ninh hỗ tương thì vấn đề đó mới danh chánh ngôn thuận, để CSVN không xuyên tạc
được, nhưng Mỹ từ chối. Sự thể cho thấy ngay từ đầu cái dã tâm đen tối của người
Mỹ, nên TT Ngô Đình Diện từ chối. Từ đó người Mỹ quyết tâm diệt trừ TT Diệm để
thực hiện âm mưu của mình. Khi loại trừ được TT Ngô Đình Diệm rồi, Mỹ ngang
nhiên đổ quân vào VN mà không cần có một chính quyền VNCH nào cho phép. Người Mỹ
tự ý vào, rồi tự ý nắm quyền chủ động cuộc chiến, cũng như sau này việc thương
thuyết hòa bình. Trong cuộc chiến, nước Mỹ đã mất 58 ngàn quân sĩ tử trận,
nhưng điều bỉ ổi nhất mà nhiều người không biết là 80% đồ tiếp tế của Liên Sô
cho VGCS trong thời gian chiến tranh là do các hãng Hoa Kỳ đầu tư và sản xuất tại
Nga. Như thế có phải là chính người Mỹ đã gián tiếp giết người Mỹ không?
Khi
người Mỹ đã hoàn tất mục tiêu thầm kín của mình rồi thì họ tìm cách rút chân ra
khỏi VN. Bằng nhiều cách và nhiều thủ đoạn, người Mỹ đã thực hiện ý định nhiều
khi khá lộ liễu. Cuộc hành quân Lam Sơn 79 Quân Lực VNCH đánh sang Nam Lào, người
Mỹ đã bí mật thông báo kế hoạch và phóng đồ hành quân cho Hànội. Mục đích của
hành động tồi bại này là để làm suy yếu khả năng chiến đấu của các đại đơn vị
tinh nhuệ và thiện chiến nhất của QLVNCH. Ý đồ phản bội miền Nam rõ rệt nhất của
Mỹ là năm 1962, khi Kissinger sang thăm Bắc Kinh, y đã nói với Mao Trạch Đông rằng
nước Mỹ sẵn sàng chấp nhận một nước VN thống nhất dưới quyền cai trị của CS miền
Bắc. Mao ngu gì mà không chịu? Để thực hiện ý đồ nàỵ, chính quyền Mỹ đã giàn dựng
cả một chiến dịch ta thưòng gọi là “phong trào phản chiến” bôi nhọ và vu cáo miền
Nam, làm cho dư luân Mỹ chán ghét chiến tranh để lấy cớ rút lui. Biện pháp cuối
cùng là cắt viện trợ và “embargo” quân dụng và vũ khí đạn dược cho QLVNCH. Biện
pháp xẩy ra giống y chang như Mỹ đã làm đối với quân đội của Tưởng Giới Thạch.
Để che mắt thế giới, và để đánh lừa cái lương tâm bất chính của mình, người Mỹ
đã muối mặt chở đến Saigon 6 chuyến máy bay vận tải toàn đồ quân trang như bi
đông đựng nước, giầy trận, áo mưa v.v. Vào những giờ phút sinh tử của cuộc chiến,
người Mỹ chở súng không có cơ bẩm cho người Trung Hoa. Nay người Mỹ chở poncho,
bidong v.v. cho VN thay vì vũ khí đạn dược. Trên thế giới này có lẽ chỉ có người
Mỹ mới có cái tính khôi hài qua việc làm bôi bác như thế mà thôi.
Nước
láng giềng Cambodia của chúng ta cũng giống như chúng ta: bị người Mỹ bịp, và
vì thế ông Sirik Matak mới có lá thư gởi cho ông đại sứ Mỹ như chúng tôi ghi lại
trên trang đầu của bài viết. Phần đông chúng ta vẫn tưởng nước Mỹ thay đổi
chính sách mỗi khi có một tổng thống mới lên cầm quyền. Vì thế mới bị lầm, và bị
lầm rồi mà vẫn cứ hy vọng. Nghị sĩ Barry Goldwater cho biết: khi một tổng thống
lên nắm quyền, đó chỉ là vấn đề thay đổi nhân sự, nhưng chính sách không thay đổi.
Ông đưa ra thí dụ, thời TT Nixon Cộng Hòa, Henry Kissinger là thành viên CFR,
người được Nelson Rockefeller đỡ đầu, nắm chính sách ngoại giao. Khi Jimmy
Carter Dân Chủ đắc cử, Kissinger được thay thế bởi Brzezinski. Brzezinski cũng
là thành viên CFR và được David Rockefeller che chở.
Với
những dẫn chứng lịch sử trên, và với kinh nghiệm bản thân của mỗi người VN,
chúng ta có thể khẳng định rằng chính sách của nước Mỹ đối vói cộng sản không
thay đổi. Chính sách đó như Ts Stanley Montieth cho biết là: Cộng sản và tư bản luôn luôn cộng tác với nhau, bởi vì cả
hai cùng được thúc đẩy bởi một đông lực tinh thần, và cả hai cùng tìm kiếm một
mục tiêu (communists and capitalists have always worked together
because they are motivated by the same spiritual force, and they seek the same
goal.) Người viết xin thêm vào một ý kiến riêng để câu nói được trọn nghĩa: mục tiêu
đó là khống chế toàn bộ đời sống con người và xã hội.
Kết luận
Không biết dân tộc Khmer có được mấy trăm, mấy ngàn năm văn hiến mà sản sinh ra
được cả một nội các chính phủ đáng kính và đáng khâm phục như thế. Họ thà chết
chứ không chạy theo những kẻ đã lừa bịp họ. Thế mà trước đó báo chí Mỹ la rùm
beng chính quyền Lon Non tham nhũng số một trên thế gian này. Nếu quả như báo
chí dòng chính Mỹ tố cáo, các ông Lon Non, Sirik Matak v.v. đem tiền bạc tham
nhũng sang Mỹ hưởng vinh hoa phú quí không sướng hơn ở lại để mất đầu hay sao!
Biết chắc chắn mình sẽ không thọ khi rơi vào tay Khmer Đỏ, trước khi chết thủ
tướng Sirik Matak đã bầy tỏ sự hối tiếc vì tin vào người Mỹ.
Thực
ra, không phải chỉ có ông Matak tin vào người Mỹ, mà cả nước Việt Nam
(VNCH) chúng tôi tin vào người Mỹ. Nhưng khi ông mở mắt bừng tỉnh thì đã quá muộn
rồi. Ông Sirik Matak phạm sai sầm, nhưng cuối cùng khi nhận ra mình sai lầm,
ông đã thành khẩn nhận sai lầm và tỏ ra hối hận. Chỉ có người VN, chưa thấy ai
nhận ra sự sai lầm của mình và tỏ ra hối hận như ông sirik Matak. Tệ hại hơn nữa
là cho đến bây giờ vẫn còn có rất nhiều người u mê tin rằng người Mỹ chống cộng,
và trông đợi hão huyền rằng người Mỹ sẽ giúp người VN chống Trung Cộng, đòi đất,
đòi biển.
-------------------------------------------------
(*) I thank you very sincerely for your letter and for
your offer to transport me towards freedom. I cannot, alas, leave in such a
cowardly fashion. As for you and in particular for your great country, I never
believed for a moment that you would have this sentiment of abandoning a people
which has chosen liberty. You have refused us your protection and we can do
nothing about it. You leave us and it is my wish that you and your country will
find happiness under the sky. But mark it well that, if I shall die here on the
spot and in my country that I love, it is too bad because we are all born and
must die one day. I have only committed the mistake of believing in you, the
Americans. Please accept, Excellency, my dear friend, my faithful and friendly
sentiments.
Prince Sirik Matak
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét