Thứ Hai, 25 tháng 3, 2013

QUỐC HẬN 30/4


QUỐC HẬN 30/4

Nguyễn Văn Chức
           
           
           
            Cách đây gần 34 năm, trong phiên họp Đại Hội Đồng Liên Hiệp Quốc tại Genève ngày 21.7.1979 về vấn đề Đông Dương,, Cao Uỷ Tỵ Nạn của Liên Hiệp Quốc đã long trọng tuyên bố trước thế giới rằng: tất cả những người  Đông Dương bỏ nước ra đi sau biến cố 1975 đều là Tỵ Nạn Chính Trị và đuợc hưởng quy chế Tỵ Nạn Chính Trị.
            Đó là  quy chế của Liên Hiệp Quốc, trên bình diện luật  pháp của Liên Hiêp Quốc.        
            Chúng ta nên nhớ: lúc đó là thời cực thịnh của Trung Cộng, Liên Sô, Đông Âu và những nuớc không liên kết . Tất cả cái khối ấy đè nặng lên Liên Hiệp Quốc. Đọc lại tài liệu xưa, chúng ta thấy: tiến sĩ Kurt Waldeim, tổng thư ký Liên Hiệp Quốc thời đó , đã  phải vô cũng thận trọng.
            Có hiểu như vậy, chúng ta mới ý thức trọn vẹn  đuợc lời tuyên bố của Cao Uỷ Tỵ Nạn Liên Hiệp Quốc liên quan đến quy chế tỵ nạn chính trị của Người Việt Tỵ Nạn.
            Phải chăng: Cao Uỷ Tỵ Nạn Liên Hiệp Quóc đã nhìn thấy sự thật, nhưng không thể nói ra. Sự thật đó là : “cuộc ra đi của Người Việt Tỵ Nạn đứng ở một bình diện cao hơn bình diện của quy chế và cuả luật pháp, kể cả quy chế và luật pháp Liên Hiệp Quóc. Đó là bình diện của Con Người VN. Của nhân dân VN .Và  của dân tộc VN”.
            Thực vậy.
            Ròng rã hơn mười thế kỷ, giặc Tầu đô hộ nhân dân ta, và phạm muôn vàn tội ác đối với nhân dân ta. Những tiếng thét căm hờn trong bài Bình Ngô Đại Cáo của Nguyễn Trãi không những chỉ áp dụng riêng cho quân Minh, mà áp dụng cho toàn thể ách đô hộ của giặc Tầu, một ách đô hộ vô cùng man rợ “ Nướng dân đen trên ngọn lửa hung tàn, vùi con đỏ xuống hầm tai vạ,  bại nhân nghĩa nát cả càn khôn, nặng khóa liễm vét không sơn trạch” .    
            Nhưng, lịch sử còn đó, người Việt đã không bỏ nước ra đi.
            Giữa thế kỷ 19, giặc Pháp xâm lăng nước ta, “đô hộ và đầy đoạ dân ta”. Tại đại hội Đảng Cộng Sản quốc tế lần thứ 5 ở Mạc tư Khoa tháng 7 năm 1924, trong tài liệu Nguòi Cùng Khổ (Le Paria) và  Bản Cáo Trạng Chống Chế Độ Thực Dân Pháp (Le Procès Contre le Colonianisme francais)—do cụ Nguyển  Thế Truyền và Ls Phan Văn Truờng viết  -- Nguyễn Ái Quốc, tức  tên giặc già Hồ Chí Minh, đã  lớn tiếng tố cáo tội ác của thực dân Pháp đối với nhân dân ta.  Nguyễn Ái Quốc cũng đã kể ra muôn vàn thống khổ của nhân  dân ta dưới ách thực dân Pháp. Nhưng, lịch sử còn đó, người Việt đã không bỏ nước ra đi.
            Năm  1945, giặc Nhật xâm chiếm  và  tàn phá nước ta. Trận đói năm Ất Dậu (1945), hai triệu dân ta chết thê thảm.            Nhưng, lịch sử còn đó, người Việt không bỏ nước ra đi
            Năm 1956, “đế quốc Mỹ xâm lược miền Nam Việt Nam , và phạm muôn vàn tội ác đối với nhân dân VN”-- tôi vừa nhắc lại lời của tên giặc già Hồ  Chí Minh.. Nhưng, lịch sử còn đó, người Việt cũng đã không bỏ nước ra đi.

*
           
            Nhưng năm 1954, khi Việt Cộng tiếp thu miền Bắc, thì gần một triệu đồng bào  miền Bắc  di cư vào Nam. Và tháng Tư năm 1975, khi Việt Cộng tiếp thu Miền Nam thì hàng trăm ngàn người Việt bỏ nước ra đi.  Rồi sau đó, đằng đẵng hơn 10 năm , khoảng ba triệu người Việt đã bỏ  nước ra đi.
            Người Việt bỏ nuớc ra đi, không phải để tránh thiên tai bệnh tật. Mà vì một sứ mạng : đem tự do về cho quê hưong đất nước.
            Người Việt bỏ nước ra đi, đại đa số với hai bàn tay trắng. Họ phải vuợt qua cả một đại dương đầy sóng gió, trên những con thuyền mong manh, làm mồi cho đói khát, bão tố và cướp biển . Và khi ra đi, họ đã cầm sẵn cái chết trên tay. Bao nhiêu gia đình đã chết trên biển cả! Bao nhiêu gia đình đã bị  cướp  bóc, bị hành hạ, bị đánh đập, và bị giết trên biển cả! Bao nhiêu  phụ nữ, em bé gái, đã bị hải tặc hãm hiếp dã man, đánh đập, và bắt mang đi mất tích ! Thế mà Người Việt vẫn lũ lượt ra đi.          
            Tại sao lại có hiện tượng kỳ lạ đó?
            Chắc chắn không phải vì họ không chịu được sự kham khổ trong cái chế độ mang tên Cộng Hoà Việt Nam Xã Hội Chủ Nghĩa, như  tên thủ tướng VC Phạm Văn Đồng đã tuyên bố trước Hội Nghị Các Nước Không Liên Kết tại Cuba năm 1978.  Bởi lẽ : giữa cái khổ và cái nguy hiểm đến tánh mạng, con nguời vẫn chọn cái khổ. Nhất là đối với người Việt Nam, thà lam lũ trên quê huơng mình, còn hơn  tha phương cầu thực; thà yên phận bên cạnh mồ mả ông cha , còn hơn mất  xác trên sông trên biển, hoặc gửi xác nơi quê nguời.
            Câu hỏi lại đuợc đặt ra: tại sao người Việt bỏ nước ra đi? Đến đây, chúng ta hãy nhìn vào lịch sử thế giới.
            Năm 1945, khi Đức Quốc Xã xâm lăng và thống trị  Đông Âu, dân chúng địa phương không bỏ nước ra đi.  Nhưng khi cộng sản lên cướp chính quyền, thì dân chúng điạ phương lũ lượt ra đi. Ba Lan, Hung Gia Lợi, Bảo Gia Lợi, Tiệp Khắc, Lỗ  Ma Ni, Đông Đức, v. v...
            Rồi sau đó là Trung Hoa, A Phú Hãn, Cu Ba.  CS đến đâu, thì ở đó  “đồng bào ruột thịt”  chạy trốn. Chạy trốn chính những kẻ đến giải phóng họ.
           


            Cách đây gần 40 năm, năm 1969, trong chuyến đi dự Đại Hội Liên Hiệp Nghị  Sĩ Quốc Tế (Union Interparlementaire ) tại Hoà Lan, tôi gặp một ông già Ba Lan làm nghề khuân vác. Tôi hỏi tại sao lại bỏ nuớc ra đi. Ông nói:  “Quân Đức đến, dân chúng tôi không ra đi, nhưng cộng sản đến, dân chúng tôi phải ra đi. Sống dưới chế độ cộng sản, là cả một sự tuyệt vọng, Tuyệt vọng không đuợc làm người. Cộng sản vừa là quỷ vừa là súc vật.”
            Thì ra, tỵ nạn cộng sản không phải là vấn đề của NGƯỜI CÔNG DÂN chống lại NHÀ NƯỚC, nhân danh quyền chính trị. Cũng không phải là vấn đề chạy trốn một thiên tai ôn dịch.  Mà là vấn đề của CON NGƯỜI chống lại QUỶ VÀ SÚC VẬT , nhân danh quyền làm người.
            Hiển nhiên, trên thế giới, không cộng sản nào quỷ và súc vật bằng cộng sản VN. Và trên thế giới,  không dân tộc nào tha thiết đến quyền làm người bằng dân tộc VN. Hai sự kiện này đã giải thích một sự kiện thứ ba: trong lịch sử nhân loại tự cổ chí  kim, chưa có cuộc ra đi nào đông đảo, ròng rã, thê thảm nhưng can trường, bằng cuộc ra đi của Người Việt Tỵ Nạn.
            Lịch sử nhân loại  sẽ mãi mãi nhắc đến cuộc ra đi này. Và lịch sử  sẽ  không quên ghi nhận một  điều: chúng ta, Người Việt Tỵ Nạn,  đã chịu đựng tất cả bất trắc khổ sở nhục nhằn hiểm nguy, để tồn tại. Không tồn tại  như những người ra đi  vì cơm áo hoặc vì  thiên tai .Mà  tồn tại như những  ngừời ra đi vì tự do, với  sứ mạng đem tự do về cho quê hương đất nước.  Tồn tại để vươn lên, và tồn tại để chiến thắng.
            Nhìn lại  ba muơi năm qua,  chúng ta có quyền  tự hào. Chúng ta đã  vươn lên và đã chiến thắng. Vươn lên và chiến thắng cùng với là cờ vàng  ba sọc ngạo nghễ khắp năm châu.
            Hơn ai hết, Việt Cộng đã  ý thức được điều dó.  Nghị Quyết số 36/NQ/TU ngày 24/ 3 / 2004 của chúng nó đã mặc nhiên nhìn nhận:  người Việt Tỵ Nạn không ra đi vì miếng cơm manh áo, cũng không ra  đi để tránh thiên tai bệnh tật , mà ra đi vì  một sứ mạng lịch sử.  Sứ mạng đó là : “cùng với nhân dân trong nuớc đấu tranh  đem  tự do dân chủ cho quê hương VN”.
            Trong  chuyến đi Úc và đi Mỹ hồi tháng 5 và tháng 6 năm 2005 tên thủ tuớng VC Phan Văn Khải cũng đã nhìn thấy sự thật, khi ôm đầu chạy như con chó trước hàng ngàn đồng bào hải ngoại và lá cờ vàng ba sọc.  Khỏi cần nói đến chuyến đi Mỹ  chữa bệnh của tên viện trường  cò mồi  rẻ tiền Hoàng Minh Chính tháng 10/2005 .

*

            Trong đại tác phẩm The Gulag Of Archipelago cũng như trong bài diễn văn nhận giải Nobel năm 1970, văn hào Solzhenitsyn đã lớn tiếng suy nghĩ:  “Tội ác lớn nhất của những nguời được hưởng tự do là im lặng.” Im lặng trước những tội ác của bạo quyền CS. Im lặng truớc những thống khổ của đồng bào mình đang phải  sống dưới ách bạo quyền  CS.
            Dương Thu Huơng, Hà Sĩ Phu, Nguyễn Vũ Bình, Lê Chí Quang, Phạm Hồng Sơn,v,v..Họ là ai ? Họ là những người đang sống trong tầm huỷ diệt của bạo quyền, nhưng đã dám đứng lên vạch mặt tội ác cuả bạo quyền, bất chấp ngục tù và coi thường cái chết.  Chúng ta ở hải ngoại, nghĩ gì truớc những tấm gương anh hùng  ấy?
            Tôi vừa đặt câu hỏi, và xin trả lời.
             Từ ba mươi năm nay, chúng ta đã không ngừng chiến đấu để đem lửa chiến đấu về quê hương, đồng thời đem lửa chiến đấu từ quê hương ra hải ngoại.  Những đóa hoa mà chúng ta ở  hải ngoại dâng lên mẹ Việt Nam đẹp lắm, và gồm đủ mầu sắc. Mầu sắc của báo chí chống cộng , của văn hoá chống cộng, của anh em cựu chiến sĩ QLVNCH chống cộng, của tập thể Người Việt Tỵ Nạn chống cộng. Và của lá cờ vàng  ba sọc ngạo nghễ.
            .
*

            Hiện nay, cuộc chiến đấu chống bạo quyền của nhân dân ta trong và ngoại nước đang bước vào giai đoạn quyết liệt. Kẻ thù, tức bạo quyền Việt Cộng ,ngày càng suy yếu, đang khi đó cường độ của chống đối ngày càng gia tăng.
            Có thể nói rằng :chưa bao giờ bạo quyền  VC lo sợ như bây giờ. Vì vậy chúng ta , Người Việt Tỵ Nạn Cộng Sản, lại càng phải tiến tới để  cùng với đồng bào trong nước lật đổ bạo quyền, và  thay thế  vào đó bằng môt chính quyền cuả dân, bởi dân và vì  dân trong một cuộc tổng tuyển cử –tôi xin mượn lời cuả Mikhael. S. Gorbachev--hợp pháp, lương thiện và dân chủ..
          Và chúng ta đừng quên : Việt Cộng hiện đang  phải căng da mặt, che hàm răng chó sói, để “hòa hợp dân tộc”, để “xây dựng dân chủ”, để đánh lừa dư luận, nhất là dư luận Mỹ.

danh sách những tên tội đồ của dân tộc và nợ máu với nhân dân VN


Trong xuốt chiều dài lịch sử VN chưa có thời đại nào ô nhục như thời đại CSVN, đất, đảo, biển đều bị người Tàu tung hoành ngang dọc và cai trị đó là chưa kể những quyền lực mềm đứng trong bóng tối điều khiển:

- 14 ông BCT ( Bộ Lê Chiêu Thống tân thời !)
- 150 ông UVTƯ ( Quan Chức Lê Chiêu Thống tân thời !)
- Hàng ngàn tư bản đỏ cấu kết với TQ / Ngoại bang để cướp đoạt tài sản, làm giàu trên mô hôi nước của dân tộc VN.

Làm gì để dân tộc VN ( hoàn toàn chưa có độc lập nếu không muốn nói là đã mất nước…nhưng chưa chánh thức trên giấy tờ như Tây Tạng, Tân Cương,... !) có thể tháo bỏ xích xiền nô lệ…mà CSVN đã lừa gạt, tròng vào đầu dân tộc VN trên nửa thế kỷ nay !?

 Đại hội Đại biểu Đảng Cộng sản Việt Nam khóa XI đã bầu ra Ban Chấp hành Trung ương gồm 175 ủy viên chính thức và 25 ủy viên dự khuyết.

1 Ủy viên Trung ương Chính thức
2 Ủy viên Trung ương Dự khuyết
3 Bộ Chính trị
4 Ban Bí thư
5 Chú thích
6 Liên kết ngoàiỦY VIÊN TRUNG ƯƠNG CHÍNH THỨC
STT Họ và tên Chức vụ khi được bầu Quê quán Năm sinh Chức vụ hiện tại
1 Hoàng Tuấn Anh
UVTWĐ, Bộ trưởng Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch Đà Nẵng
1952
2 Lê Hồng Anh
UVBCT, Đại tướng, Bộ trưởng Bộ Công an Kiên Giang
1949 UVBCT, BTTWĐ phụ trách công tác nội chính, Đại tướng, Bộ trưởng Bộ Công an.
3 Lê Thị Thu Ba
UVTWĐ, ủy viên ủy ban Thường vụ Quốc hội, Chủ nhiệm ủy ban Tư pháp của Quốc hội Thành phố Hồ Chí Minh
1956
4 Hà Ban
Bí thư Tỉnh ủy Kon Tum Quảng Nam
1957
5 Bùi Quang Bền
Bí thư Tỉnh ủy Kiên Giang
Kiên Giang
1955
6 Dương Thanh Bình
Bí thư Tỉnh ủy Cà Mau
Cà Mau
1961
7 Nguyễn Hoà Bình
Bí thư Tỉnh ủy Quảng Ngãi
Quảng Ngãi
1958
8 Nguyễn Thái Bình
UVTWĐ, Thứ trưởng Bộ Nội vụ, Trưởng Ban Tôn giáo Chính phủ Trà Vinh 1954
9 Nguyễn Thanh Bình
Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch HĐND tỉnh Hà Tĩnh
Hà Tĩnh
1957
10 Nguyễn Văn Bình
Phó Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam Hải Phòng
1957
11 Phan Thanh Bình
UVTWDK, Thành ủy viên, Giám đốc Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh An Giang 1960
12 Trương Hoà Bình
UVTWĐ, Chánh án Tòa án Nhân dân Tối cao
Long An
1955 BTTWĐ, Chánh án Tòa án Nhân dân Tối cao13 Lương Ngọc Bính
Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch HĐND tỉnh Quảng Bình
Quảng Bình
1955
14 Huỳnh Minh Chắc
Bí thư Tỉnh ủy Hậu Giang Sóc Trăng
1955
15 Lê Chiêm
Thiếu tướng, Tư lệnh Quân khu 5 - Bộ Quốc phòng 1958
16 Đỗ Văn Chiến
UVTWDK, Phó Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch UBND tỉnh Tuyên Quang
Tuyên Quang
1962
17 Hà Ngọc Chiến
Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch HĐND tỉnh Cao Bằng Cao Bằng 1957
18 Võ Minh Chiến
UVTWĐ, Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch HĐND tỉnh Sóc Trăng
Sóc Trăng
1956
19 Mai Văn Chính
UVTWDK, Bí thư Tỉnh ủy Long An
Long An
1961
20 Phạm Minh Chính
Trung tướng, Thứ trưởng Bộ Công an Thanh Hóa
1958
21 Phạm Thị Hải Chuyền
UVTWĐ, Phó Chủ nhiệm Thường trực ủy ban Kiểm tra Trung ương Bắc Giang
1952
22 Nguyễn Thành Cung
UVTWĐ, Trung tướng, Phó Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam Tây Ninh
1953
23 Đinh Văn Cương
UVTWĐ, Phó Trưởng ban Thường trực Ban Chỉ đạo Tây Bắc Hà Nam
1952
24 Hà Hùng Cường
UVTWĐ, Bộ trưởng Bộ Tư pháp Vĩnh Phúc
1953
25 Lương Cường
Trung tướng, Chính ủy Quân khu 3 - Bộ Quốc phòng 1957
26 Nguyễn Quốc Cường
UVTWĐ, Chủ tịch Hội Nông dân Việt Nam Bắc Giang
1952
27 Nguyễn Xuân Cường
Bí thư Tỉnh ủy Bắc Kạn Hà Nội 1959
28 Nguyễn Thị Doan
UVTWĐ, Phó Chủ tịch nước Hà Nam
1951
29 Ngô Văn Dụ
BTTWĐ, Chánh Văn phòng Trung ương Đảng Vĩnh Phúc
1947 UVBCT, BTTWĐ, Chủ nhiệm Ủy ban Kiểm tra Trung ương30 Đào Ngọc Dung
UVTWĐ, Bí thư Tỉnh ủy Yên Bái
Hà Nam
1962
31 Đinh Tiến Dũng
Bí thư Tỉnh ủy Ninh Bình
Ninh Bình
1961
32 Mai Tiến Dũng
Phó Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch UBND tỉnh Hà Nam
1960
33 Nguyễn Chí Dũng
Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch UBND tỉnh Ninh Thuận Hà Tĩnh
1960
34 Nguyễn Tấn Dũng
UVBCT, Thủ tướng Chính phủ Cà Mau
1949
35 Phan Xuân Dũng
UVTWDK, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Khoa học - Công nghệ và Môi trường của Quốc hội Hà Tĩnh
1960
36 Trần Trí Dũng
Bí thư Tỉnh ủy Trà Vinh
Trà Vinh 1959
37 Trịnh Đình Dũng
UVTWĐ, Thứ trưởng Bộ Xây dựng Hà Nội
1956
38 Võ Văn Dũng
UVTWDK, Bí thư Tỉnh ủy Bạc Liêu
Bạc Liêu
1960
39 Mai Thế Dương
UVTWĐ, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Kiểm tra Trung ương
Bắc Cạn
1954
40 Vũ Đức Đam
UVTWDK, Bí thư Tỉnh ủy Quảng Ninh
Hải Dương
1963
41 Trần Đơn
Thiếu tướng, Phó tư lệnh kiêm Tham mưu trưởng Quân khu 7 - Bộ Quốc phòng Long An 1957
42 Lê Hữu Đức
Trung tướng, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng Phú Thọ
1955
43 Phạm Xuân Đương
Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch UBND tỉnh Thái Nguyên
Nam Định
1956
44 Lò Văn Giàng
Bí thư Tỉnh ủy Lai Châu
Điện Biên
1956
45 Nguyễn Văn Giàu
UVTWĐ, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam An Giang
1957
46 Nguyễn Thị Thu Hà
Phó Bí thư Thành ủy Thành phố Hồ Chí Minh
Tây Ninh
1956
47 Phạm Hồng Hà
Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch HĐND tỉnh Nam Định
Nam Định
1958
48 Hoàng Trung Hải
UVTWĐ, Phó Thủ tướng Chính phủ Thái Bình
1959
49 Lê Thanh Hải
UVBCT, Bí thư Thành ủy Thành phố Hồ Chí Minh Tiền Giang 1950
50 Nguyễn Đức Hải
Bí thư Tỉnh ủy Quảng Nam
Quảng Nam
1961
51 Trần Lưu Hải
UVTWĐ, Phó trưởng Ban Tổ chức Trung ương Phú Thọ 1953
52 Trần Văn Hằng
UVTWĐ, Phó trưởng Ban Tuyên giáo Trung ương Nghệ An 1953
53 Phùng Quốc Hiển
UVTWĐ, ủy viên ủy ban Thường vụ Quốc hội, Chủ nhiệm ủy ban Tài chính - Ngân sách của Quốc hội Phú Thọ 1958
54 Nguyễn Văn Hiến
UVTWĐ, Phó Đô đốc Hải quân, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng kiêm Tư lệnh Quân chủng Hải quân Ninh Bình
1954
55 Đặng Văn Hiếu
UVTWĐ, Trung tướng, Thứ trưởng Bộ Công an Ninh Bình
1953
56 Dương Đức Hoà
Thiếu tướng, Tư lệnh Quân khu 2 - Bộ Quốc phòng 1955
57 Nguyễn Thị Thanh Hoà
UVTWĐ, Chủ tịch Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam Bắc Ninh 1954
58 Phương Minh Hoà
UVTWĐ, Trung tướng, Tư lệnh Quân chủng Phòng không - Không quân, Bộ Quốc phòng Hà Nội
1955
59 Bùi Thị Minh Hoài
UVTWDK, Phó Chủ tịch Thường trực Hội Nông dân Việt Nam Hà Nam
1965 Phó Chủ nhiệm Ủy ban Kiểm tra Trung ương
60 Vũ Huy Hoàng
UVTWĐ, Bộ trưởng Bộ Công thương Hải Phòng 1953
61 Vũ Ngọc Hoàng
UVTWĐ, Phó Trưởng ban Tuyên giáo Trung ương Quảng Nam
1953
62 Vương Đình Huệ
UVTWĐ, Tổng Kiểm toán Nhà nước Nghệ An 1957
63 Nguyễn Sinh Hùng
UVBCT, Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ Nghệ An 1946
64 Phạm Xuân Hùng
UVTWĐ, Trung tướng, Phó Tổng Tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam Nam Định
1953
65 Trần Quốc Huy
Bí thư Tỉnh ủy Đắc Nông Tây Ninh
1955
66 Đinh Thế Huynh
UVTWĐ, Tổng Biên tập Báo Nhân Dân Nam Định
1953 UVBCT, BTTWĐ, Trưởng ban Tuyên giáo Trung ương
67 Nguyễn Tấn Hưng
UVTWĐ, Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch HĐND tỉnh Bình Phước Bình Phước 1955
68 Thuận Hữu
Phó Tổng Biên tập Báo Nhân Dân Hà Tĩnh
1958 Tổng Biên tập Báo Nhân Dân
69 Nguyễn Tuấn Khanh
UVTWĐ, Phó trưởng Ban Tổ chức Trung ương An Giang
1954
70 Nguyễn Doãn Khánh
Bí thư Tỉnh ủy Phú Thọ Phú Thọ 1956
71 Trương Quang Khánh
UVTWĐ, Trung tướng, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng Quảng Nam
1953
72 Hà Thị Khiết
BTTWĐ, Trưởng Ban Dân vận Trung ương Tuyên Quang
1950
73 Phùng Thanh Kiểm
Bí thư Tỉnh ủy Lạng Sơn Lạng Sơn 1958
74 Vũ Trọng Kim
UVTWĐ, Phó Chủ tịch - Tổng Thư ký ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam Đà Nẵng
1953
75 Tô Lâm
Trung tướng, Thứ trưởng Bộ Công an Hưng Yên 1957
76 Ngô Xuân Lịch
UVTWĐ, Trung tướng, Phó Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam Hà Nam
1954 BTTWĐ, Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam (từ 3/2011)
77 Đào Tấn Lộc
UVTWĐ, Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch HĐND tỉnh Phú Yên Phú Yên 1953
78 Phạm Vũ Luận
Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo Hà Nội
1955
79 Uông Chu Lưu
UVTWĐ, Phó Chủ tịch Quốc hội Hà Tĩnh
1955
80 Trương Thị Mai
UVTWĐ, ủy viên ủy ban Thường vụ Quốc hội, Chủ nhiệm ủy ban về các vấn đề xã hội của Quốc hội Quảng Bình
1958
81 Trần Thanh Mẫn
UVTWDK, Phó Bí thư Thành ủy, Chủ tịch UBND Thành phố Cần Thơ
Hậu Giang
1962 Bí thư Thành ủy Cần Thơ
82 Châu Văn Minh
Chủ tịch Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam Thừa Thiên - Huế 1961
83 Nguyễn Tuấn Minh
UVTWĐ, Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch HĐND tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu Bà Rịa - Vũng Tàu 1953
84 Phạm Bình Minh
UVTWĐ, Thứ trưởng Thường trực Bộ Ngoại giao Nam Định
1959
85 Trần Bình Minh
Phó Tổng Giám đốc VTV
Hưng Yên 1958 Tổng Giám đốc VTV86 Trần Văn Minh
Phó Bí thư Thành ủy, Chủ tịch UBND Thành phố Đà Nẵng
Đà Nẵng
1955
87 Bùi Văn Nam
Trung tướng, Thứ trưởng Bộ Công an Nam Định 1955
88 Nguyễn Phương Nam
Thiếu tướng, Phó Tư lệnh kiêm Tham mưu trưởng QK9 - Bộ Quốc phòng
89 Nguyễn Văn Nên
Bí thư Tỉnh ủy Tây Ninh
Tây Ninh
1957
90 Nguyễn Thị Kim Ngân
UVTWĐ, Bộ trưởng Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội Bến Tre 1954 BTTWĐ, Bộ trưởng Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội
91 Phạm Quang Nghị
UVBCT, Bí thư Thành ủy Hà Nội
Thanh Hóa
1949
92 Trương Quang Nghĩa
Bí thư Đảng ủy Khối Doanh nghiệp Trung ương Quảng Nam
1958
93 Phạm Quý Ngọ
Trung tướng, Thứ trưởng Bộ Công an, Thủ trưởng cơ quan Cảnh sát điều tra Bộ Công an Thái Bình 1954
94 Hồ Mẫu Ngoạt
Phó Chánh Văn phòng Trung ương Đảng Nghệ An 1956 Phó Chánh Văn phòng Phụ trách Văn phòng Trung Ương Đảng
95 Trần Thế Ngọc
Bí thư Tỉnh ủy Tiền Giang Tiền Giang 1955
96 Nguyễn Thiện Nhân
UVTWĐ, Phó Thủ tướng Chính phủ Trà Vinh 1953
97 Hà Sơn Nhin
UVTWĐ, Bí thư Tỉnh ủy Gia Lai Gia Lai 1954
98 Mai Văn Ninh
Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch HĐND tỉnh Thanh Hoá Thanh Hóa
1957
99 Vũ Văn Ninh
UVTWĐ, Bộ trưởng Bộ Tài chính Nam Định
1955
100 Nguyễn Thị Nương
UVTWĐ, Phó Trưởng ban Dân vận Trung ương Cao Bằng 1955
101 Nguyễn Đình Phách
UVTWĐ, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Kiểm tra Trung ương Hưng Yên 1954 Chánh Văn phòng Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng chống tham nhũng
102 Cao Đức Phát
UVTWĐ, Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Nam Định
1956
103 Mai Quang Phấn
UVTWĐ, Trung tướng, Chính ủy Quân khu 4 - Bộ Quốc phòng Thanh Hóa
1953
104 Nguyễn Thành Phong
Bí thư Tỉnh ủy Bến Tre Bến Tre 1962
105 Tòng Thị Phóng
BTTWĐ, Phó Chủ tịch Quốc hội Sơn La 1954 UVBCT, Phó Chủ tịch Quốc hội
106 Lê Hữu Phúc
UVTWĐ, Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch HĐND tỉnh Quảng Trị Quảng Trị 1954
107 Nguyễn Hạnh Phúc
Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch HĐND tỉnh Thái Bình Thái Bình 1959
108 Nguyễn Xuân Phúc
UVTWĐ, Bộ trưởng, Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ Quảng Nam
1954 UVBCT, Bộ trưởng, Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ
109 Võ Văn Phuông
UVTWDK, Phó Bí thư Tỉnh ủy Tây Ninh
Tây Ninh
1960
110 Giàng Seo Phử
UVTWĐ, Bộ trưởng, Chủ nhiệm ủy ban Dân tộc Lào Cai 1951
111 Ksor Phước
UVTWĐ, Chủ tịch Hội đồng Dân tộc của Quốc hội Gia Lai 1954
112 Lê Thanh Quang
Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch HĐND tỉnh Khánh Hoà Khánh Hòa 1960
113 Nguyễn Minh Quang
UVTWĐ, Bí thư Đảng ủy Khối các cơ quan Trung ương Hà Tĩnh
1953
114 Trần Đại Quang
UVTWĐ, Trung tướng, Thứ trưởng Bộ Công an Ninh Bình
1956 UVBCT, Trung tướng, Thứ trưởng Bộ Công an
115 Hoàng Bình Quân
UVTWĐ, Trưởng Ban Đối ngoại Trung ương Thái Bình 1959
116 Lê Hoàng Quân
UVTWĐ, Phó Bí thư Thành ủy, Chủ tịch UBND Thành phố Hồ Chí Minh Bình Dương 1953
117 Nguyễn Quân
Thứ trưởng Thường trực Bộ Khoa học và Công nghệ 1955
118 Nguyễn Tấn Quyên
UVTWĐ, Bí thư Thành ủy, Chủ tịch HĐND thành phố Cần Thơ Trà Vinh 1953 UVTWĐ, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Kiểm tra Trung ương
119 Bùi Thanh Quyến
UVTWĐ, Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch HĐND tỉnh Hải Dương
Hải Dương
1956
120 Nguyễn Văn Quynh
UVTWĐ, Phó trưởng Ban Tổ chức Trung ương Hải Phòng 1953
121 Tô Huy Rứa
UVBCT, BTTWĐ, Trưởng Ban Tuyên giáo Trung ương Thanh Hóa
1947 UVBCT, BTTWĐ, Trưởng Ban Tổ chức Trung ương
122 Trương Tấn Sang
ủy viên Bộ Chính trị, Thường trực Ban Bí thư Long An
1949
123 Phan Văn Sáu
Bí thư Tỉnh ủy An Giang
Đồng Tháp 1959
124 Nguyễn Bắc Son
UVTWĐ, Phó trưởng Ban Tuyên giáo Trung ương Hà Nội
1953
125 Hồ Xuân Sơn
Thứ trưởng Bộ Ngoại giao Quảng Trị 1956
126 Huỳnh Ngọc Sơn
UVTWĐ, Phó Chủ tịch Quốc hội Đà Nẵng
1951
127 Nguyễn Thanh Sơn
UVTWDK, Phó Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch UBND tỉnh Kiên Giang
Kiên Giang
1960
128 Thào Xuân Sùng
UVTWĐ, Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch HĐND tỉnh Sơn La Sơn La 1958
129 Lê Vĩnh Tân
Bí thư Tỉnh ủy Đồng Tháp Đồng Tháp 1958
130 Tạ Ngọc Tấn
UVTWĐ, Tổng Biên tập Tạp chí Cộng sản Phú Thọ 1954 Giám đốc Học viện Chính trị - Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh (3/2011)
131 Ngô Thị Doãn Thanh
Phó Bí thư Thành ủy, Chủ tịch HĐND Thành phố Hà Nội
Hà Nội
1957
132 Nguyễn Bá Thanh
UVTWĐ, Bí thư Thành ủy, Chủ tịch HĐND thành phố Đà Nẵng
Đà Nẵng
1953
133 Phùng Quang Thanh
UVBCT, Đại tướng, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Hà Nội
1949
134 Nguyễn Văn Thành
Bí thư Thành ủy Hải Phòng Ninh Bình
1957
135 Trần Đình Thành
UVTWĐ, Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch HĐND tỉnh Đồng Nai Bà Rịa 1955
136 Nguyễn Thế Thảo
UVTWĐ, Phó Bí thư Thành ủy, Chủ tịch UBND Thành phố Hà Nội
Bắc Ninh 1952
137 Đinh La Thăng
UVTWĐ, Chủ tịch Hội đồng thành viên Tập đoàn Dầu khí quốc gia Việt Nam Nam Định
1960
138 Nguyễn Xuân Thắng
Phó Chủ tịch Viện Khoa học Xã hội Việt Nam Nghệ An 1957 Chủ tịch Viện Khoa học xã hội Việt Nam
139 Sơn Minh Thắng
Tỉnh ủy viên, Phó Chủ tịch HĐND tỉnh Trà Vinh 1960
140 Đào Trọng Thi
UVTWĐ, Ủy viên Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Chủ nhiệm Ủy ban Văn hoá Giáo dục - Thanh thiếu niên nhi đồng của Quốc hội Hải Phòng 1951
141 Nguyễn Ngọc Thiện
Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch HĐND tỉnh Thừa Thiên Huế Thừa Thiên - Huế 1959
142 Nguyễn Văn Thiện
Bí thư Tỉnh ủy Bình Định Bình Định 1954
143 Đặng Thị Ngọc Thịnh
UVTWDK, Bí thư Tỉnh ủy Vĩnh Long Quảng Nam
1959
144 Nguyễn Văn Thông
Phó Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch UBND tỉnh Hưng Yên 1958
145 Niê Thuật
UVTWĐ, Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch HĐND tỉnh Đắk Lắk Đăk Lăk 1956
146 Võ Văn Thưởng
UVTWDK, Bí thư thứ nhất Trung ương Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh Vĩnh Long 1970
147 Huỳnh Văn Tí
UVTWĐ, Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch HĐND tỉnh Bình Thuận Bình Thuận
1956
148 Nguyễn Thị Kim Tiến
UVTWDK, Thứ trưởng Bộ Y tế Hà Tĩnh
1959
149 Nguyễn Xuân Tiến
Phó Bí thư Thường trực Tỉnh ủy, Chủ tịch HĐND tỉnh Lâm Đồng Thừa Thiên Huế 1958
150 Bùi Văn Tỉnh
Phó Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch UBND tỉnh Hoà Bình Hòa Bình 1958
151 Phan Đình Trạc
Bí thư Tỉnh ủy Nghệ An Nghệ An 1958
152 Huỳnh Phong Tranh
UVTWĐ, Bí thư Tỉnh ủy Lâm Đồng Hậu Giang
1955
153 Lò Mai Trinh
Bí thư Tỉnh ủy Điện Biên Điện Biên 1957
154 Nguyễn Phú Trọng
UVBCT, Chủ tịch Quốc hội Hà Nội
1944 TBT, Chủ tịch Quốc hội
155 Đào Việt Trung
Thứ trưởng Bộ Ngoại giao Hà Nam
1959
156 Mai Thế Trung
UVTWĐ, Bí thư Tỉnh ủy Bình Dương Bình Dương 1954
157 Nguyễn Thế Trung
UVTWĐ, Phó Trưởng Ban Thường trực Ban Dân vận Trung ương Nghệ An 1953
158 Võ Tiến Trung
Trung tướng, Giám đốc Học viện Quốc phòng - Bộ Quốc phòng Quảng Nam 1954
159 Mai Trực
Phó Chủ nhiệm ủy ban Kiểm tra Trung ương Khánh Hòa 1958
160 Bế Xuân Trường
Thiếu tướng, Tư lệnh Quân khu 1 - Bộ Quốc phòng Cao Bằng 1957
161 Trần Cẩm Tú
UVTWDK, ủy viên ủy ban Kiểm tra Trung ương Hà Tĩnh
1961 UVTWĐ, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Kiểm tra Trung ương
162 Nông Quốc Tuấn
Bí thư Tỉnh ủy Bắc Giang
Bắc Cạn 1963
163 Đặng Ngọc Tùng
UVTWĐ, Chủ tịch Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam Quảng Ngãi
1952
164 Trần Văn Tuý
Phó Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch UBND tỉnh Bắc Ninh
Bắc Ninh 1957 Bí thư Tỉnh ủy Bắc Ninh (từ 2/2011)165 Đỗ Bá Tỵ
UVTWĐ, Trung tướng, Tổng Tham mưu trưởng QĐNDVN, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng Hà Nội
1954
166 Nguyễn Hữu Vạn
Bí thư Tỉnh ủy Lào Cai Thái Bình
1956
167 Nguyễn Sáng Vang
Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch HĐND tỉnh Tuyên Quang
Tuyên Quang 1957
168 Nguyễn Hoàng Việt
UVTWĐ, Phó Trưởng Ban Tổ chức Trung ương An Giang
1953
169 Võ Trọng Việt
Trung tướng, Chính ủy Bộ đội Biên phòng - Bộ Quốc phòng Hà Tĩnh
1957
170 Bùi Quang Vinh
UVTWĐ, Thứ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư Hà Nội
1953
171 Triệu Tài Vinh
UVTWDK, Bí thư Tỉnh ủy Hà Giang
Hà Giang
1968
172 Nguyễn Chí Vịnh
Trung tướng, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng Thừa Thiên Huế
1957
173 Phạm Văn Vọng
Bí thư Tỉnh ủy Vĩnh Phúc
Vĩnh Phúc 1957
174 Lê Quý Vương
Trung tướng, Thứ trưởng Bộ Công an Phú Thọ
1956
175 Trần Quốc Vượng
UVTWĐ, Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân tối cao Thái Bình 1953
[SỬA] ỦY VIÊN TRUNG ƯƠNG DỰ KHUYẾT
STT Họ và tên Chức vụ khi được bầu Quê quán Năm sinh Chức vụ hiện tại
1. Chu Ngọc Anh
Thứ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ
2. Nguyễn Xuân Anh
Ủy viên Ban Thường vụ Thành ủy, Bí thư Quận ủy Liên Chiểu, Đà Nẵng Đà Nẵng 1976
3. Tất Thành Cang
Thành ủy viên, Bí thư Quận ủy, Chủ tịch UBND quận 2, TP Hồ Chí Minh Long An 1971
4. Nguyễn Tân Cương
Phó Tư lệnh kiêm Tham mưu trưởng Quân đoàn 1, Bộ Quốc phòng
5. Bùi Văn Cường
Phó Bí thư Tỉnh ủy Gia Lai Hải Dương 1965
6. Nguyễn Phú Cường
Tỉnh ủy viên, Phó Bí thư Thành ủy, Chủ tịch UBND TP Biên Hoà, tỉnh Đồng Nai Đồng Nai 1967
7. Nguyễn Công Định
Tỉnh ủy viên, Bí thư Huyện ủy, Chủ tịch HĐND huyện Mỏ Cày Nam, Bến Tre Bến Tre
8. Trần Hồng Hà
Thứ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường, Phó Bí thư Đảng ủy Khối các cơ quan T.Ư Hà Tĩnh 1963
9. Ngô Đông Hải
Tỉnh ủy viên, Bí thư Huyện ủy Hoài Ân, Bình Định
10. Điểu Kré
UVTWDK, ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy, Bí thư Thị ủy Gia Nghĩa, tỉnh Đắk Nông Đăk Nông 1968
11. Hầu A Lềnh
UVTWDK, ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy, Bí thư Huyện ủy Sa Pa, Lào Cai Lào Cai 1973
12. Bh'Riu Liếc
Tỉnh ủy viên, Bí thư Huyện ủy Tây Giang, tỉnh Quảng Nam Quảng Nam 1964
13. Nguyễn Hồng Lĩnh
UVTWDK, Phó Bí thư Tỉnh ủy Bà Rịa - Vũng Tàu Long An 1964
14. Lâm Văn Mẫn
Tỉnh ủy viên, Bí thư Huyện ủy Châu Thành, tỉnh Sóc Trăng
15. Phạm Hoài Nam
Phó Chỉ huy trưởng kiêm Tham mưu trưởng vùng 4, Quân chủng Hải quân, Bộ Quốc phòng Khánh Hòa 1967
16. Nguyễn Thanh Nghị
Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Kiến trúc TP Hồ Chí Minh Cà Mau 1976
17. Phùng Xuân Nhạ
Thành ủy viên, Phó Giám đốc Đại học quốc gia Hà Nội Hưng Yên 1963
18. Trần Lưu Quang
Tỉnh ủy viên, Bí thư Huyện ủy Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh Tây Ninh 1967
19. Nguyễn Thị Thanh
ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy, Trưởng Ban Dân vận Tỉnh ủy Ninh Bình Ninh Bình 1967
20. Trần Sỹ Thanh
Phó Bí thư Tỉnh ủy Đắk Lắk Nghệ An 1973 UVTWDK, Ủy viên Ủy ban Kiểm tra Trung ương
21. Nguyễn Văn Thể
Ủy viên Thường vụ Tỉnh ủy, Bí thư Huyện ủy Tân Hồng, Đồng Tháp Đồng Tháp
22. Nguyễn Khắc Toàn
Ủy viên Thường vụ Tỉnh ủy, Bí thư Thành ủy Cam Ranh, tỉnh Khánh Hòa Khánh Hòa
23. Nguyễn Thị Tuyến
Thành ủy viên, Bí thư Huyện ủy Chương Mỹ, TP Hà Nội; Đại biểu QH khoá XII Hà Nội 1971
24. Nguyễn Đắc Vinh
Bí thư Trung ương Đoàn TNCS Hồ Chí Minh Nghệ An 1972
25. Võ Thị Ánh Xuân
Ủy viên Thường vụ Tỉnh ủy, Bí thư Thị ủy Tân Châu, tỉnh An Giang An Giang 1970
[SỬA] BỘ CHÍNH TRỊ
14 ủy viên chính thức:
1. Trương Tấn Sang;
2. Phùng Quang Thanh;
3. Nguyễn Tấn Dũng;
4. Nguyễn Sinh Hùng;
5. Lê Hồng Anh;
6. Lê Thanh Hải;
7. Tô Huy Rứa;
8. Nguyễn Phú Trọng;
9. Phạm Quang Nghị;
10. Trần Đại Quang;
11. Tòng Thị Phóng;
12. Ngô Văn Dụ;
13. Đinh Thế Huynh;
14. Nguyễn Xuân Phúc.
Tổng Bí thư
Nguyễn Phú Trọng
BAN BÍ THƯ
1. Nguyễn Phú Trọng: Tổng Bí thư
2. Trương Tấn Sang (BCT): Thường trực Ban Bí thư
3. Lê Hồng Anh (BCT): Phụ trách Công tác nội chính
4. Tô Huy Rứa (BCT): Trưởng ban Ban Tổ chức Trung ương
5. Ngô Văn Dụ (BCT): Chủ nhiệm Ủy ban Kiểm tra Trung ương
6. Đinh Thế Huynh (BCT): Trưởng ban Ban Tuyên Giáo Trung ương
7. Ngô Xuân Lịch: Chủ nhiệm Tổng Cục Chính trị
8. Trương Hòa Bình: Chánh án Tòa án Nhân dân Tối cao Việt Nam
9. Hà Thị Khiết: Trưởng ban Ban Dân vận Trung ương
10. Nguyễn Thị Kim Ngân: Bộ trưởng Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội

TẬP ĐOÀN NGUYỄN TẤN DŨNG


CẢ NƯỚC BỊ “TẬP ĐOÀN NGUYỄN TẤN DŨNG” LƯỜNG GẠT


Thủ đô Hà-Nội, ngày 17 tháng 04 năm 2011.

Thư Ngỏ
Về việc cả nước đều bị “Tập đoàn Nguyễn Tấn Dũng” lường gạt”.

 Kính gửi: Toàn thể đồng bào trong nước và ở nước ngoài.

     Tôi, Nguyễn Thứ Lữ, bí danh Hồng-Hà, nguyên chính trị viên Trung Đoàn Tây-Bắc, 50 tuổi Đảng, trân trọng có đôi lời thưa cùng đồng bào, nhất là các cán bộ, đảng viên, những quân nhân trong QĐNDVN, những công an trong CAND đang ra sức bảo vệ chế độ hãy thức tĩnh vì chúng ta đã và đang bị “Tập đoàn Nguyễn Tấn Dũng lường gạt”. Những mồ hôi nước mắt và tiền bạc của chúng ta và nhân dân Việt Nam đã và đang chảy vào túi tham của “Tập đoàn Nguyễn Tấn Dũng” lấy làm của riêng. Công nợ của quốc gia Việt Nam mà “Tập đoàn Nguyễn Tấn Dũng” làm cho hao hụt đến đời cháu của chúng ta chắc gì sẽ trả hết?
     Với một con Người, máu rất có hữu ích dùng để nuôi thân thể người ta.Với một quốc gia, kinh tế cũng như máu vậy. Kinh tế dùng để nuôi quân, nuôi dân. Người ta ví kinh tế là yết hầu của một nước. Ai nắm giữ kinh tế trong một nước là người đó có thể như một ông vua, sai khiến được thiên hạ một cách dễ dàng.
Quốc dân đồng bào, trong đó gồm có TW Đảng, toàn thể đảng viên, toàn thể QĐNDVN, toàn thể CAND … qúy vị và các bạn có biết ai đang nắm giữ vận mạng nước Việt chúng ta không ?

     Đó là ”Tập đoàn Nguyễn Tấn Dũng” đang nắm giữ kinh tài của cả nước và điều khiển 20 doanh nghiệp Quốc Doanh quan trọng cốt lõi gồm có:                                                                                                      

1- Tập đoàn Dệt May.
2- Tập đoàn Điện Lực Việt Nam
3- Tập đoàn Dầu Khí Quốc gia Việt Nam
4- Tập đoàn Công nghiệp Than (Khoáng sản Việt Nam)
5- Tập đoàn Công nghiệp Cao su Việt Nam
6- Tập đoàn Bưu chính Viễn thông Việt Nam
7- Tổng công ty Xăng Dầu Việt Nam ( đổi thành Tập đoàn Xăng Dầu Quốc gia Việt Nam)
8- Tập đoàn Công nghiệp Hoá chất Việt Nam
9- Tổng công ty Giấy Việt Nam
10- Tổng công ty Thuốc lá Việt Nam (đổi thành Tập đoàn Thuốc lá Việt Nam)
11- Tổng công ty Sông Đà
12- Tổng công ty Thép Việt Nam (đổi thành Tập đoàn Thép Việt Nam)
13- Tổng công ty Hàng Không Việt Nam
14- Tổng công ty Công nghiệp Xi-măng Việt Nam
15- Tổng công ty Lương thực miền Bắc
16- Tổng công ty Lương thực miền Nam
17- Tổng công ty Cà phê Việt Nam
18- Tổng công ty Đường Sắt Việt Nam
19- Tổng công ty Hàng hải Việt Nam (đổi thành Tập đoàn Hàng Hải Việt Nam)
20- Tập đoàn Viễn Thông Quân Đội Viettel.

     Kể từ ngày ĐCSVN nắm chính quyền đến nay cộng lại là 65 năm, chưa có vị thủ tướng nào có đầy quyền uy như Nguyễn Tấn Dũng. Theo như điều lệ của Đảng CS, Nguyễn Tấn Dũng không được quyền gả con gái cho thành phần Ngụy. Nhưng vì Dũng đã khinh miệt chẳng xem ai ra gì; cà đến Tổng Bí thư là người có quyền lãnh đạo tối cao trong Đảng. Vì những người nắm giữ giếng mối quốc gia không ít thì nhiều đã được Dũng chia chác tiền bạc cho. Vì mối lợi cá nhân đó mà họ quên mất đại sự là “an ninh quốc gia”.

     Sau khi Dũng gã con gái rượu là Nguyễn Thanh Phượng cho Henry Nguyễn (tên Việt Nam là Nguyễn Bảo Hoàng) con của ông Nguyễn Bang, một cựu quan chức của chính quyền miến Nam. Khi gia đình Nguyễn Bang di cư sang Mỹ, Hoàng mới 2 tuổi. Henry Nguyễn đến Việt Nam làm việc với tư cách Tổng Giám Đốc IDG Venture VietNam. Nghe nói chuyện hai bên xáp lại gần nhau đều có sự sắp xếp của bàn tay kín đáo. Ngày 16/11/2008 là ngày thành hôn giữa Nguyễn Thanh Phượng (con gái của Dũng) và Henry Nguyễn. Nguyễn Tấn Dũng với sự cố vấn không công khai của ông Nguyễn Bang qua người con dâu. Dũng thực hiện theo kế hoạch tóm thâu tất cả các Công ty Quốc Doanh thu về một mối; đặt dưới quyền kiểm soát của thủ tướng. Và cũng từ đó mới xẩy ra vụ Vinashin làm thất thoát số tiền kếch sù lên đến hơn 4 tỷ USD; và vụ đang xẩy ra mới đây là vụ thất thoát một số tiền lớn lên đến 3 tỷ USD ở Ngân hàng Phát triển Nông nghiệp? Xin đồng bào hãy nhớ rằng số tiền bị thất thoát là tiền vay nợ nước ngoài mà đồng bào phải trả chứ không phải tiền từ trên Trời rơi xuống?

     Tại sao lại có vụ “chìm xuồng Vinashin”. Vì Nguyễn Tấn Dũng có liên quan chặt chẽ với Vinashin từ việc bố trí nhân sự.… Nếu mang ra xử thì đương nhiên Dũng không thoát khỏi lưới pháp luật. Nếu trường hợp Vinashin xẩy ra tại bất kỳ một nước Á châu nào khác như: Nhật, Thái Lan hay Mã Lai Á thì nhất định Thủ tướng đã xin từ chức. Và nội vụ sẽ được mang ra xử công khai xem thủ tướng có dính líu gì tới tham nhũng ?

     Nắm trong tay các Doanh Nghiệp Nhà Nước là có quyền ban phát ân huệ cũng như chức tước, lương bổng …. Quyết định cho phép đặt nhà máy ở đâu? Cho ai được vay tiền và vay bao nhiều tiền đều do thủ tướng quyết định. Các bí thư tỉnh, thành đếu phải chạy chọt hay nhờ người vận động công việc mới đến tay thủ tướng. Và khi đã đến rồi, công việc chắc gì đã xong. Một lần nữa, phải chờ quyết định của thủ tướng.

     Như đã có người viết trên Blog rằng là trong kỳ bầu cử vừa qua người trong nước đinh ninh rằng Nguyễn Tấn Dũng phải ra đi vì thủ tướng Dũng đã phạm nhiều sai lầm trong chính sách kinhtế quốc gia như: trưng thu đất của dân, bồi thường tiền đất làm mất lòng dân; vụ Vinashin; lạm phát phi mã, cho Tàu khai thác Bauxite ở Tây nguyên. Cho thuê rừng v.v… Nhưng cuối cùng Nông Đức Mạnh và Nguyễn Minh Triết phải ra đi; chứ Nguyễn Tấn Dũng không hề hấn gì và dĩ nhiến chức Thủ tướng lại về tay Dũng. Vì sao ? Vì đa số trong các đại biểu bỏ phiếu tại Đại hội Đảng vừa qua đã thọ ân Dũng hay được Dũng ban phát ân huệ cho? Nay phải bầu cho Nguyễn Tấn Dũng để trả ơn !

     Với số dự trữ ngoại tệ không đủ để trả một tháng hàng nhập cảng, tất cả các nhà cung cấp nước ngoài khi bán hàng cho người Việt Nam sẽ rất dè dặt không dám bán chịu, và các nhà nhập cảng trong nước sẽ khó đi vay nợ quốc tế để mua hàng. Ông Kim Eng Tan ở Singapore mô tả là các doanh nghiệp Việt Nam đang “chiến đấu vất vả” để có ngoại tệ cho họ tiếp tục làm ăn! Tất nhiên hàng hóa nhập khẩu sẽ tăng giá; thêm một nguyên nhân khiến giá sinh hoạt lên cao, ngoài những lý do dễ thấy là điện, xăng tăng giá, hối suất đô la Mỹ lên cao, dân lo đổi tiền mặt lấy hàng hóa để ngừa lạm phát. Tỷ lệ lạm phát ở Việt Nam đã tăng lên tới 14% trong tháng 3 vừa qua đúng như đã được tiên đoán.

     Nhìn vào các con số đó, phải kết luận “Tập đoàn Nguyễn Tấn Dũng” đang cho Nhà Nước ăn vào vốn, loay hoay không thấy đường thoát! Trong khi đó, tập đoàn này lại càng ngày càng cho Nhà Nước sa lầy trong các vụ xì-căng- đan (scandal) không thể bưng bít được. Vụ Vinashin thua lỗ hàng tỷ Mỹ kim chưa biết sẽ giải quyết ra sao? Lại thêm một cái “lỗ thủng lớn” mới được khui ra, là vụ công ty tài chánh ALC II, tức Công ty Cho thuê Tài chính II thuộc Ngân hàng Nông Nghiệp và Phát Triển Nông Thôn, còn gọi la Agribank.

Nên nhớ rằng, những vụ thua lỗ đó Nhà Nước phải trả tức là nhân dân cả nưóc phải trả chứ “Tập đoàn Nguyễn Tấn Dũng” chỉ biết rửa tiền, không hế hấn gì, nhờ nước đục nên họ càng dễ kiếm tiền và càng giàu thêm. Ðúng là tiêu tiền chùa!

     Theo báo Tiền phong, công ty ALC II được thành lập năm 2006, đã đưa quá nhiều tiền cho các công ty ít vốn và mới thành lập vay; tiền đầu tư tập trung vào ngành vận tải biển quá lớn (chiếm 56.6% tổng số nợ), là ngành mà họ không có kinh nghiệm! Kinh khủng hơn nữa là công ty ALC II đã mua những thứ máy móc từ các công ty không có quyền sở hữu trên các máy móc đó! Blog của Ðào Tuấn kể chuyện: “Công ty ALC II mua một xe cẩu thủy lực 250 tấn của công ty Quang Vinh với giá 65 tỉ đồng. Trong khi đó, chỉ 7 ngày trước, Quang Vinh mua chiếc xe này với giá chỉ chưa tới 32 tỉ đồng!” Quang Vinh được lời 33 tỷ trong một tuần, đúng là tiền trên trời rớt xuống! Thế mới Vinh Quang !

Tiêu tiền chùa như thế, nhưng tiền chùa ở đâu ra? Báo Tiền Phong cho biết: “ALC II còn rất mạnh tay trong huy động vốn với mức huy động vượt trần lãi suất, thậm chí thoát ra khỏi ‘hạn mức bảo lãnh của Agribank’ tức là ngân hàng mẹ đẻ!” Ông Nguyễn Thế Bình, chủ tịch Hội Ðồng Quản Trị Agribank chỉ biết nói: “Chúng tôi cũng có trách nhiệm!”

     Ðây là một thủ thuật ăn cướp giữa ban ngày: Công ty ALC II, một thứ ngân hàng thuộc “Tập đoàn Nguyễn Tấn Dũng”, đã nhân danh “lợi ích chung” đi vay tiền của các ngân hàng quốc doanh cũng thuộc “Tập đoàn Nguyễn Tấn Dũng”, lãi suất cao bao nhiêu cũng chịu. Sau đó, đem tiền đi mua máy móc, thí dụ cái cần cẩu, với giá bao nhiêu cũng trả. Thế là 33 tỷ đồng của nước VN, của 85 triệu người Việt Nam được “đánh bùn sang ao” chuyển vào tay một nhóm tư nhân tài phiệt ! Có bao nhiêu nhóm đã hưởng lộc trời như vậy? Những ai đứng đằng sau họ? Chỉ có “Tập đoàn Nguyễn Tấn Dũng” biết với nhau mà thôi!

     Những thành viên trong “Tập đoàn Nguyễn Tấn Dũng” có đủ cách moi tiền công quỹ. Blog của Ðào Tuấn cho biết: “Tổng công ty xăng dầu lỗ 3,600 tỷ chỉ trong 3 tháng.” Làm thế nào để khỏi bị lỗ? Họ đã có cách: “Họ xin có một tỷ giá riêng!” Tức là người thường muốn đổi lấy một đô la Mỹ phải trả 18 đến 21 ngàn đồng Việt Nam. Ví dụ chỉ cần 12,000 đồng đổi được một đô la, thì coi như “nhân dân” Việt Nam vừa mới trợ cấp cho công ty xăng dầu 6,000 đồng. Ðổi một lần độ 100 triệu đô la thì toàn dân Việt Nam đã đóng góp cho “Tập đoàn Nguyễn Tấn Dũng” độ 600 ngàn tỷ đồng!

     Toàn dân Việt Nam đang bị rút ruột một cách tinh vi như thế! Nhưng cũng có một số người sẽ chịu tai nạn trực tiếp vì vụ ALC II này. Blog của nhà báo Bút Lông báo tin rằng nếu ALC II phá sản thì “Quỹ Hưu Bổng Xã Hội của các công chức về hưu có thể mất 610 tỉ đồng vì đã đầu tư 1,010 tỉ đồng vào ALC II. Ngân hàng mẹ, tức là Ngân hàng NN&PTNT chỉ bảo lãnh đến mức 400 tỉ đồng mà thôi!”

     Quý vị công chức nghỉ hưu nếu mất tiền hưu bổng có thể được an ủi: Trong tai nạn lớn của toàn dân thì những mất mát của mình còn quá nhỏ! Quý vị đã hy sinh cả đời phục vụ cho một tập đoàn thống trị; nay chịu hy sinh thêm một chút nữa cũng được. Có thể “Tập đoàn Nguyễn Tấn Dũng” sẽ tặng cho mỗi vị một huy chương anh hùng kinh tế!

     Hết cái lỗ hổng Vinashin lại đến cái lỗ ALC II! Ðã bao năm khai thác tài sản của nước Việt Nam, sức lực của người Việt Nam, không biết bao giờ đến lượt cái “tập đoàn Nguyễn Tấn Dũng” mới về hưu?

     Nói cho cùng, ông Tổng Bí Thư Nông Đức Mạnh rồi đến ông Nguyễn Phú Trọng có biết mô tê gì về kinh tế đâu ? Ngồi không, được Nguyễn Tấn Dũng chia cho bằng nào thì biết bằng đó. Nghe nói nếu làm ăn được 10 phần thì cùng lắm Nguyễn Tấn Dũng chì bỏ ra 5 phần chia cho các đồng chí lãnh đạo ở TW Đảng, ở Bộ Quốc Phòng trong đó đ/c Nguyễn Chí Vịnh được đặc biệt hơn cả rồi Bộ Công An v.v… Thế là còn lại 5 phần, Dũng chia cho đàn em thân tín trong tập đoàn 2 phần. Còn lại 3 phần Dũng bỏ túi làm của riêng.

     Tại sao các cán bộ cách mạng lão thành, các tướng lãnh kháng chiến ký tên vào những kiến nghị: Bauxite, yêu cầu trả tự do cho Cù Huy Hà Vũ, con trai của ông Cù Huy Cận ? Người có công với kháng chiến không phải họ theo nhóm Nguyễn Huệ Chi, nhưng vì bất mãn với chế độ. Chế độ đã đi trật đường xã hội chủ nghĩa. Xã hội Việt Nam giở đây như những bong bóng màu mè, xã hội chủ nghĩa không ra XHCN, tư bản không ra TB; phong kiến không ra PK; độc tài không ra ĐT. Nó là thứ bong boong đầu gà đít vịt … Thằng dốt nắm đầu thằng khôn nhờ có Công An và Quân Đội hậu thuẫn.

     Nhà Nước mị dân bằng cách cho tổ chức nhiểu cuộc thi hoa hậu ở khắp nơi, festival ở Huế, những ban nhạc địa phương, những trò múa rối cho vui để cho dân tình quên đi những lo âu nhọc nhằn trong cuộc sống hiện tại để không còn tinh thần chống chính phủ. Với triệu chứng thiếu lòng tự trọng, xem thường công chúng, sẵn sàng loè bịp công chúng với bất cứ giá nào, đang có nguy cơ lan rộng trong đời sống văn hóa của người Việt Nam hôm nay. Lạm phát quá cao ở Việt Nam là sự nguy hiểm cho việc ổn định kinh tế và nhiều phần sẽ vượt chỉ tiêu kềm chế của nhà cầm quyền Hà Nội, theo nhận định của tập đoàn ngân hàng Australia & New Zealand Banking Group Ltd (ANZ).

     Bây giờ thì Nguyễn Tấn Dũng không còn lo việc cất giấu hay chuyển ngân ra nước ngoài như trước nữa. Đã có con gái và chàng rể lo cho tất cả. Con gái của Dũng thế nào cũng trở thành công dân Mỹ vì lấy chồng là người Mỹ. Một mai nếu có xẩy ra biến cố ở Việt Nam thì đã có con gái là công dân Mỹ bảo trợ cho Dũng vào nước Mỹ dễ dàng.

     Chúng tôi xin lặp lại, chúng ta cả nước từ TW Đảng đến các cấp ủy điạ phương; từ Quân Đội đến Công An; Quốc hội cũng như đồng bào cả nước đã bị “Tập đoàn Nguyễn Tấn Dũng” lường gạt. Tiền lường gạt có được chúng mang ra gửi ở nước ngoài như Ngân hàng Thụy sĩ và Ngân hàng Mỹ. Đi xa hơn nữa, nếu nói về đức tin thì có vay, có trả hoặc gieo nhân nào thì gặt quả đó. Đạo Phật gọi là “Luật Nhân Quả” . Có nghĩa là lưới Trời lồng lộng …. ?

     Kết luận là tại sao chúng ta bị “Tập đoàn Nguyễn Tấn Dũng” lừa bịp một cách dễ dàng ? Vì cấp lãnh đạo Đất Nước quá bết, không có khả năng, thiếu kiến thức, tự cao tự đại vì họ đã có quân đội, công an hậu thuẫn. Họ có chính sách “thờ Bụt để ăn oản”. Tôn thờ Hồ Chí Minh nhưng không noi gương HCM. Họ xa rời quần chúng nhân dân, xem nhân dân Việt Nam như nô lệ. Như vậy họ đã phản bội nhân dân (trong đó có quân đội và công an hàng ngày bảo vệ họ), phản bội các đồng chí từng hy sinh thân mình đế Vioệt Nam mới có ngày nay. Nói chung, người CS ăn ở không tình nghĩa, thiếu thủy chung. Chúng ta cứ xem những cán bộ cách mạng lão thành, các tướng lãnh trong QĐNDVN đã hy sinh thân mình trong hai cuộc kháng chiến. Nhưng đến lúc nước nhà độc lập, thống nhất, hết bị cấm vận, ăn nên làm ra … thì những người như Nông Đức Mạnh, Nguyễn Phú Trọng, Nguyễn Tấn Dũng …. là hậu sinh, có hy sinh, đóng góp cái con mẹ gì đâu? Thế mà khi có được địa vị, tiền bạc (ngồi mát ăn bát vàng) thì họ không xem những người có công với cách mạng, những người đi trước không ra cái thể thống gì ? Đại tướng Võ Nguyên Giáp là một trường hợp. Trái lại, họ còn khinh bỉ, cho những công thần có công với Đất Nước là ngu si.

     Đảng CSVN đã sai lầm khi chọn Nguyễn Tấn Dũng làm thủ tướng vì một khi Dũng đã xé rào, bất chấp điều lệ của Đảng thì bất cứ việc gì Dũng cũng làm được, kể cả việc phản bội. Nhìn vào sự việc Dũng tôn Nguyễn Bang (xuôi gia) làm cố vấn “tập đoàn” thì biết ngay Nguyễn Tấn Dũng đang đi hàng hai. Với bản chất đấy tham vọng và thủ đoạn Nguyễn Tấn Dũng đã hình thành được một nhóm tài phiệt phục vụ tư bản dưới trướng và tạo mọi điều kiện để nhóm này tóm thâu nền kinh tế VN từng bước một, thực hiện âm mưu sâu độc của bọn tài phiệt.

Chúng tôi tha thiết kêu gọi các sĩ quan trong QĐNDVN hãy thức tĩnh, hãy nhận xét sự việc và hãy nhận chân sự thật. Chúng tôi không theo ai hết, kể cả Mỹ. Chúng tôi chỉ muốn nói lên sự thật được che giấu mà ít người dám nói.  Các bạn trong QĐ, chỉ có các bạn mới có hoàn cảnh làm nên lịch sử!

     Ở bất kỳ nước nào mà chúng tôi đã đọc qua lịch sử của những cuộc chính biến hay đảo chính không phải, phải có địa vị tướng tá mới làm nên lịch sử. Nước kề cận ta là Thái-Lan những người cầm đầu đảo chính chỉ là sĩ quan cấp úy như cố thống chế Phibul Songkram lúc làm đảo chính ông ấy chỉ là một Trung úy Pháo binh. Bạn nào có chí, có đảm lược thì nhất định thành công. Nếu giờ đây, tôi đang ở trong quân ngũ, có một đại đội trong tay là tôi nhất định làm một cuộc cách mạng. Cách mạng thành công là làm nên lịch sử !

     Các bạn thân mến, nhất là các bạn trí thức nên bắt chưóc nhà Toán học Nguyễn Bảo Châu tuy được chế độ CS chiếu cố đặc biệt nhưng không vì thế mà a-dua với chế độ. Các bạn có biết Nguyễn Tấn Dũng làm gì không và học đến lớp mấy? Nguyễn Tấn Dũng là anh Ba Dũng chỉ học đến tiểu học, làm Y tá rồi sang làm Công An …. Sau leo lên chức Bí Thư tỉnh Kiên Giang. Cũng nhở chức Bí Thư, Dũng đã âm mưu tước đoạt “Đất” của dân Rạch Giá mới trở nên giàu có.

     Chưa bao giờ chúng ta đã sai lầm như khi chọn Nguyễn Tấn Dũng đặt hắn vào ghế Thủ Tướng. Chúng ta chưa bao giờ có thủ tướng đầy tham vọng quyền lực và nặng về vật chất như hắn. Chưa đầy một năm kể từ khi hắn nắm quyền hắn đã làm gì được cho đất nước? Hắn chỉ giở mọi thủ đoạn để củng cố quyền lực nhằm tạo thêm vây cánh để thực hiện quyết tâm theo gót Yetsin đưa VN từ Chủ nghĩa Cộng Sản sang Chủ nghĩa Tư bản. Nguyễn Tấn Dũng đã hình thành được một nhóm tài phiệt dưới trướng và tạo mọi điều kiện để nhóm này thâu tóm nền kinh tế VN từng bước một, thực hiện âm mưu sâu độc của “tập đoàn Nguyễn Tấn Dũng”. Tài sản mà hắn có hiện nay đã đưa hắn trở thành một người giầu nhất Châu Á.

     Bọn bá quyền Bắc Kinh có lời khuyên TW Đảng ta rằng: “Chớ có dại mà hợp tác với Mỹ”. Bọn đế quốc sẽ thừa cơ thực hiện âm mưu “Diễn Biến Hoà Bình” đó. Các đồng chí không nghe lời chúng tôi là các đồng chí mất cả địa vị lẫn tiền bạc. Nhưng nếu nghe lời các đồng chí đại Hán, chúng tôi sẽ mất tất cả.Nước Việt Nam sẽ mất mà mạng sống chắc cũng không còn.

     Theo chỗ chúng tôi phán đoán thì “Diễn biến Hoà bình” sẽ không xẩy ra. Trước kia còn chiến tranh nên bất đắc dĩ phải độc Đảng. Bây giờ hoà bình và yên ổn rồi thì mở rộng Dân Chủ, đa đảng thì có nhiều cái lợi. Tất nhiên sẽ có được lãnh đạo có thực tài do dân trực tiếp bầu lên. Có nhiều nhân tài ra đóng góp việc nước, nước mới mau tiến bộ, giàu mạnh. Dân mới đích thực có được hạnh phúc ấm no.
     Việc "Diễn biến hoà bình” không bao giờ có, nhưng chúng ta cừ ví dụ cho là có như mấy ông lãnh đạo Đảng phất phơ nói đi. Mấy ông ấy không được học hành, không đọc sách nhiều nên có tầm nhìn rất hạn hẹp. Cứ ví dụ nếu lần nầy bọn Đại Hán lấy được nước ta một lần nữa thì lần nầy chúng ta sẽ bị đồng hoá là cái chắc vì màu da giống nhau, phong tục tập quán gần giống nhau; chỉ khác biệt tiếng nói. Ở Trung quốc có những nơi tiếng noí khác nhau như: Quảng Đông, Phúc Kiến, Triều Châu, Hải Nam … học nói một ngôn ngữ thì mấy hồi. Sẵn âm mưu thâm độc, bọn lãnh đạo Bắc Kinh chỉ bỏ tiền ra cho 5 triệu thanh niên Hán tộc lấy con gái Việt thì còn gì là Việt Nam nữa ?
     Còn ví dụ Mỹ có âm mưu “Diễn biên hoà bình” ư ? Cùng lắm là họ khuyến cáo ta thực hiện dân chủ, tự do và nhân quyền. Cứ ví dụ cho đi là giới lãnh đạo của ta theo Mỹ đi. Nhưng đi với Mỹ mình học được văn minh và nhiều cái hay. Và điều chắc chắn là ta không bị đồng hoá vì màu da khác nhau, phong tục tập quán không giống nhau? Nước Việt Nam chắc chắn là vẫn còn trên bản đồ thế giới. So ra, khác với bọn Tàu phù một trời một vực?
     Vì sự tồn vong của Đất Nước nên chúng tôi thành thật viết Lá Thư Ngỏ nầy kính gửi toàn thể đồng bào trong và ngoài nước. Kính mong những vị nào có đảm lược và trí tuệ hãy mau mau tìm cách diệt trừ Nguyễn Tấn Dũng ra khỏi chính quyền và lập một Ủy ban để điều tra hành vi tẩu tán tài sản bất chính mà hắn đã có từ khi hắn làm Bí Thư tỉnh ủy Kiên Giang và khi hắn trở thành Thủ tướng Việt Nam. Lập Toà Án Đặc biệt mang Nguyễn Tấn Dũng ra xét xử

Kính mong các sĩ quan có binh lính và vũ khí trong tay hãy tùy theo hoàn cảnh để làm nên lịch sử.
Kính mong các nhà báo Việt hãy bắt chước nhà báo phương Tây điều tra sư kiện về Nguyễn Tấn Dũng và Tập đoàn, tố cáo trước quốc dân đồng bào vể tham nhũng và âm mưu của “Tập đoàn Nguyễn Tấn Dũng” đưa nước ta vào qũy kế mất nước. Một nhà báo Mỹ đã có chiến công hiển hách về việc điều tra hành vi của tổng thống Nixon làm ông ấy phải từ chức, đám bộ hạ phải vào tù.
Kính chào Đoàn Kết.
Nay kính,

Bảy mối tội đầu


Bảy mối tội đầu
Bách khoa toàn thư mở Wikiped                                                
                                                                                                                                                             Bảy mối tội đầu là nhóm các tội lỗi chính mà con người dễ mắc phải, và là nguồn gốc cho nhiều loại tội lỗi khác phát sinh, theo quan niệm của Kitô giáo.
Truyền thống Kitô giáo cho rằng, việc sắp xếp này là do các Giáo phụ sơ khai thực hiện. Đến năm 604 SCN, Giáo hoàng Grêgôriô I chính thức xếp thành 7 loại, tương ứng với tên của bảy con quỷ đầu sỏ trong địa ngục, đối nghịch với bảy Tổng lãnh Thiên thần trên thiên đường. Năm 1589, Peter Binsfield - một tu sĩ Dòng Tên liệt kê cụ thể như sau:
Lucifer - tội kiêu ngạo
Mammon - tội hà tiện
Asmodeus - tội dâm dục
Satan - tội hờn giận, thù hằn
Beelzebub - tội mê ăn uống
Leviathan - tội ghen ghét, đố kỵ
Belphegor - tội lười biếng phụng thờ Thiên Chúa

Chủ Nhật, 24 tháng 3, 2013

Đức Giáo Hoàng John Paul Đệ Nhị


Giáo Hoàng có mấy Sư đoàn?


     Bắt đầu từ năm 1944, gió đã đổi chiều trong trận đệ nhị thế chiến, trên cả hai mặt trận Âu châu và Thái Bình Dương. Liên quân Mỹ, Nga và Anh bắt đầu chiếm lại được thế thượng phong. Tuy nhiên lúc bấy giờ, Đức quốc vẫn đi trước các nước kỹ nghệ tây phương khác một bước dài trên bình diện phát minh khoa học và kỹ thuật. Từ mùa thu năm 1944, Đức đã cho thí nghiệm thành công các loại bom bay V-1 và V-2, cũng như các chiến-đấu phản-lực-cơ đầu tiên trên thế giới. Đã lỡ ngồi trên lưng cọp, Hitler quyết định tung ngay các chiến cụ mới này vào trận địa, với hy vọng xoay chuyển thế cờ. V-1 và V-2 đã được phóng sang Luân Đôn, chiến-đấu phản-lực-cơ cũng đã bay lên vùng trời Bá Linh nghênh chiến các đợt không tập của quân đồng minh. Nhưng đã quá trễ. Vì Hoa Kỳ, ngoài việc  phản công trên các đảo khắp vùng Thái Bình Dương, vẫn còn khả năng gởi nhiều không-đoàn phóng pháo cơ B-17, cũng như khu-trục chiến-đấu-cơ mới P-51 Mustang sang Anh cát Lợi để phụ giúp không quân hoàng gia Anh, ngày đêm nghiền nát các khu vực kỹ nghệ chế-xuất của Đức quốc xã, làm Đức ngã quỵ.
     Sang mùa xuân năm 1945, quân Anh Pháp và Mỹ siết chặt vòng vây vào Bá Linh từ các hướng tây, tây bắc và tây nam. Hồng quân Nga từ phía đông tiến nhanh vào cửa ngõ Bá Linh, với khoảng mười lăm nghìn chiến xa T-34. Hồng quân được Joseph Stalin cho lệnh “làm cỏ” quân dân Đức trên đường tiến quân, để trả thù việc Hitler gởi cả lộ-quân tấn công Leningrad năm trước! Bá Linh thất thủ, hồng quân không thu hồi các sư đoàn thiết giáp về Nga, mà lại được lệnh của Stalin cho rải lại chiếm đóng các nước đông âu, thẳng tay dập tắt mọi sức kháng cự. Thoát vỏ dưa, lại gặp vỏ dừa. Toàn vùng đông âu vừa thoát khỏi gót giày phát xít, thì lại đã rơi ngay vào dưới ách kềm kẹp sắt máu của cộng sản. Joseph Stalin tung đoàn quân viễn chinh vừa chiến thắng trở về, chiếm luôn 14 tiểu quốc phía tây Russia, để thành hình Liên-Bang Sô-Viết những năm sau đó. Không những quán quân về việc tàn sát người Đức và toàn vùng đông âu, Stalin còn vô địch trong màn thanh trừng chính cả triệu dân Nga, để biến nước này thành thủ-phủ của thiên đàng vô sản xã hội chủ nghĩa. Giáo Hội Orthodox lâu đời ở Nga cũng đành hoàn toàn khuất phục dưới bàn tay sắt! Ngất ngưỡng trên sức mạnh quân sự tưởng như vĩnh viễn vô địch, Joseph Stalin đã nhìn về Tòa Thánh Vatican với một câu nói xách mé, pha lẫn thách đố và đe dọa: “Giáo Hoàng có mấy sư đoàn?”.
 
     Trước đó, trong những năm tháng căng thẳng ngột ngạt của trận đệ-nhất thế-chiến, lúc chính nước Nga đang đứng trước hiểm họa cộng sản, vào ngày 13 tháng 10 năm 1917, Đức Mẹ Maria đã hiển thánh ở thị trấn nhỏ Fatima, nước Bồ Đào Nha, và đã nói lời tiên tri với 3 đứa trẻ, rằng “Trái Tim Mẹ sẽ thắng, và nước Nga sẽ trở lại”. Dầu vậy, câu nói của bạo chúa Stalin trên đây, đã không được trả lời suốt thời gian Stalin, Breznev, Kruschev, Chechnenko . . . thay nhau làm chủ-nhân-ông điện Kremlin. Câu nói xách mé trên cũng chưa hề được trả lời suốt nhiệm kỳ của các vị Giáo Hoàng tiền nhiệm. Khói lửa điêu linh tiếp tục trùm phủ lên thế kỷ 20 . . .

     Trong bối cảnh đó, Đức Giáo Hoàng John Paul Đệ Nhị đã chào đời ngày 18 tháng 5 năm 1920 tại thị trấn Wadowice nước Ba Lan, dưới tên thật là Karol Josef Wojtyla Jr. Thân phụ Wojtyla Sr. là một sĩ quan trong lục-quân Ba Lan. Chàng thanh niên Karol Jr. rất tích cực hoạt động trên nhiều lãnh vực xã hội, thể thao, sân khấu kịch nghệ, kể cả sáng tác và xuất bản thơ. Năm ngài vào học đại-chủng-viện, thì xứ sở Ba Lan bị Đức Quốc Xã chiếm đóng, chủng viện bị đóng cửa, việc học hành phải lén lút khó khăn. Cuối cùng rồi chủng-sinh Karol Wojtyla Jr. cũng đã được bí mật thụ phong linh mục ngày 1 tháng 11 năm 1946, vì Ba Lan lại đã rơi vào dưới bàn tay của cộng sản vô thần. Linh mục Wojtyla Jr. đã được gởi sang học ở Ý, và đã đổ tiến sĩ thần học tại La Mã năm 1948. Trở về lại Ba Lan, cha Karol Wojtyla Jr. được giao trách nhiệm đầu tiên, trông coi giáo xứ Niegowic, cách thủ đô Ba Lan khoảng 50 cây số. Và ngài tiếp tục phục vụ giáo hội tuần tự qua các chức vụ khác nhau, cho đến ngày được Hội Đồng Hồng-Y bầu ngài vào chức vụ hàng đầu giáo hội Công Giáo vào ngày 16 tháng 10 năm 1978, với số 103 phiếu thuận trên 109 phiếu bầu, sau 10 vòng đầu phiếu. Năm đó là lần đầu tiên, sau hơn 450 năm, một vị Hồng Y không sinh trưởng ở Ý được chọn làm Giáo Hoàng.

     Cả hai tháng nay, truyền thông và báo chí đã nói nhiều về cuộc đời siêu phàm của ngài. Trong khuôn khổ nhỏ bé của bài báo này, chỉ xin ghi lại vài nét chính, cùng với những con số cụ thể . . .
Đối ngoại, ngài đã mở rộng vòng tay hòa hợp sang các tín ngưỡng khác, như các lãnh tụ Muslim và Đức Đạt Lại Lạt Ma. Ngài cũng đã có nghĩa cử hòa giải, bằng cách nhân danh giáo hội, chính thức lên tiếng xin lỗi về những sai lầm của giáo hội trong quá khứ. Ngài giữ vững lập trường chống phá thai, và rất khắt khe với các khuynh hướng “cấp tiến” đang len lỏi vào hệ thống truyền giáo của giáo hội. Đối với các lãnh tụ chuyên chế hoặc độc tài như Mikhail Gorbachev và Fidel Castro, ngài vẫn tiếp xúc, vẫn thăm viếng, nhưng đồng thời vẫn lên tiếng chỉ trích chế độ cộng sản, và thách thức việc tôn trọng quyền nhân bản. Ngài cực lực chỉ trích chủ nghĩa cộng sản tàn bạo vô thần, nhưng ngài cũng mạnh dạn cảnh tỉnh sự suy đồi của xã hội tây phương qua các khuynh hướng vật-chất phi-nhân và nhục-thể sa-đọa (ví dụ điển hình mà người ta đã thấy qua cuộc bầu cử ồn ào ở Hoa Kỳ, là đám Bill Clinton/Monica Lewinski, Ted Kennedy, John Kerry, và lũ Hồ Ly Vọng). Đối nội, ngài cứng rắn chống lại việc bổ nhậm nữ tu sĩ, viện cớ rằng chính Chúa Giê-Su cũng chỉ chọn nam tông-đồ. Ngài cũng nghiêm khắc với khuynh hướng thiên về vấn đề cho phép tu sĩ lập gia đình.

    Đức Giáo Hoàng John Paul II đã đứng đầu Giáo Hội Công Giáo đúng 26 năm, 5 tháng, 16 ngày. Hành trình giáo-sự của ngài đã trải dài 775,231 dặm anh. Ngài đã di chuyển 146 chuyến hành giáo trên lãnh thổ Ý Đại Lợi, và 104 chuyến đến thăm viếng 129 quốc gia khác nhau trên khắp hoàn vũ (bốn chuyến đến Phi Châu và năm chuyến đến Châu Mỹ La Tinh). Vì những chuyến đi này, Đức Giáo Hoàng đã ra ngoài tòa thánh Vatican tổng cộng 822 ngày (khoảng 2 năm rưỡi). Ngài đã đọc khoảng 20,000 bài nói chuyện, dài khoảng 100,000 trang. Ngài đã tấn phong 1,338 Vị Thánh (hồ sơ còn chưa giải quyết từ nhiều đời tiền nhiệm), bổ nhậm 231 vị Hồng Y. Ngài đã thăm viếng hoặc tiếp xúc với các nguyên thủ quốc gia 1,590 lần. Tại điện Vatican, ngài cũng đã chủ tọa 1,160 buổi thuyết giảng, với tổng cộng hơn 17 triệu người trong cử tọa . . . Mặc dù vậy, có 4 quốc gia đã từ chối việc thăm viếng của Đức Giáo Hoàng John Paul II, mà tên gọi chẳng làm ai ngạc nhiên. Đó là các nước Nga (hậu cộng sản), Trung cộng, Bắc Hàn, và dĩ nhiên là . . . không thể thiếu việt cộng, việt cộng hiện đại, việt cộng đỉnh cao trí tuệ, việt cộng đã chế ra được tu sĩ quốc doanh để xài!
   
     Cho đến cuối thập niên 1980, đối với nước Ba Lan và và các quốc gia đông âu, Đức Giáo Hoàng John Paul II đã can đảm và khôn khéo thủ một vai trò rất nguy hiểm và tế nhị. Đó là làm sao giúp đỡ giáo hội và giáo dân các quốc gia đó giữ vững được niềm tin nơi Thiên Chúa, niềm tin đoàn kết phấn đấu, mà không tạo lý do cụ thể cho bạo quyền cộng sản thẳng tay đàn áp đẫm máu, gây thêm cảnh nồi da xáo thịt.    
Chỉ một năm sau khi nhậm chức, Giáo Hoàng John Paul II đã dàn xếp trở về thăm quê hương lần thứ nhất vào tháng 6 năm 1979, lúc bấy giờ đang rất ngột ngạt dưới quyền của tướng Jaruzelsky, thủ tướng Ba Lan. Dân chúng Ba Lan (85% công giáo) đã tập họp thật đông đảo để nghênh đón ngài, và nô nức mong ngài nói lên lời ủng hộ công đoàn Đoàn Kết (Solidarity) do Lech Walesa cầm đầu. Nhưng Đức Thánh Cha đã khôn khéo cao siêu hơn, kêu gọi mọi người hãy giữ vững niềm tin, và đặc biệt khuyên nhủ các thủ lãnh Lech Walesa của Ba Lan cũng như Vaclav Havel của Tiệp Khắc, hãy “cố gắng sống như là họ đang ở trong thể chế tự do”! Trong chuyến trở về lần thứ nhất này, ngài cũng đã đến điện Belweder để hội kiến với thủ tướng Jaruzelsky và giáo sư Jablonski, chủ tịch nước Ba Lan. Ngài chỉ cố gắng thuyết phục, kêu goi tôn trọng con người, khuyến khích nên thẳng thắn đàm thoại để nghe ý dân, chứ ngài tuyệt nhiên không đưa ra một “tối hậu thư” nào.
 
     Khi ngài trở về La Mã, trùm mật vụ KGB của Liên Sô là Yuri Andropov đã lưu ý các lãnh tụ cộng sản Ba Lan, rằng họ đã làm “một lỗi lầm rất lớn” khi đã thuận cho John Paul II về thăm quê nhà! Và cộng sản đã hành động. Họ xử dụng một người Thổ Nhỉ Kỳ cuồng tín tên Mehmet Ali Agca, trang bị cho hắn một khẩu súng lục đặc biệt, cho trà trộn vào đám đông công chúng trong công trường thánh Phê-rô, và bắn trúng bụng Đức Giáo Hoàng ngày 13 tháng 5 năm 1981. Cuộc giải phẫu cam go kéo dài hơn 5 giờ, và ngài đã thoát hiểm. Khoảng hai năm sau, ngài đã đích thân đến tận khám đường để thăm viếng và tha thứ cho hung thủ Mehmet Agca.

     Sau biến cố này, Tổng Thống Hoa Kỳ Ronald Reagan đã có một cuộc mật đàm rất quan trọng với Đức Giáo Hoàng John Paul II vào ngày 7 tháng 6 năm 1982, mà kết quả chỉ được “xì” ra nhiều năm sau ngày Liên Bang Sô Viết tan rã năm 1991, theo đó, hai nhà lãnh đạo đã đồng ý đề cử nhân sự dưới quyền phối hợp chặt chẽ và bí mật, để thảo ra và thi hành kế sách nhằm cứu vãn công đoàn Đoàn Kết của Lech Walesa đang có nguy cơ tan rã trước những tấn công của nhà cầm quyền cộng sản. Tướng Jaruzelsky, cũng là người công giáo, nhưng đã ban hành lệnh thiết-quân-luật ngày 13 tháng 12 năm 1981, sau chuyến hồi hương thứ nhất của Đức Thánh Cha.  Nếu “Solidarity” tan rã, thì ngọn lửa hy vọng của toàn thể vùng đông âu cũng sẽ bị dập tắt luôn.
Việc phối hợp tối mật này được gọi là “Liên Minh Thánh Bí Mật” (Secret Holy Alliance). Các nhân sự gốc Ba Lan đã được Tòa Thánh điều động gồm có vị Tổng Giám Mục Pio Laghi ở vùng Hoa Thịnh Đốn, đức Hồng Y John Krol ở Philadelphia, vị Giám Mục Bronislav Dabrowski, phụ tá cho đức Hồng Y Glemp ở vùng thủ đô Ba Lan. Phía chánh quyền Reagan thì có các viên chức cao cấp như giám đốc CIA William Casey, cố vấn an ninh quốc gia William Clark, tướng Alexander Haig, đại sứ William Wilson cạnh tòa thánh, đặc sứ lưu động Vermon Walters . . . Ngay tại thủ đô Ba Lan, có tin rằng CIA cũng đã móc nối tổ chức được với một thứ trưởng quốc phòng, và với đại tá Ryszard Kuklinski trong bộ Tổng Tham Mưu bộ-đội cộng sản Ba Lan lúc bấy giờ. Công đoàn “Solidarity” được bí mật giúp đỡ bằng những phương tiện phi-quân-sự, như tiền bạc, thuốc men cùng các phương tiện thông tin và dụng cụ ấn loát v. v. . . không mang nhãn hiệu USA.
       
     Cuộc đời của Tổng Thống Hoa Kỳ Ronald Reagan và của Đức Giáo Hoàng John Paul II có nhiều trùng hợp lý thú bất ngờ. Thời trai trẻ, cả hai đều có duyên dính dáng một thời đến nghiệp diễn xuất, sân khấu kịch trường. Rồi gió đưa gió đẩy, cả hai bỗng trở thành hai nhà lãnh-tụ hàng đầu của thế giới tự do. Rồi cả hai cùng bị hung thủ cuồng tín mưu sát, cùng trúng đạn nguy kịch, và cùng thoát hiểm. Cuối cùng, tuy mỗi người ở một phương vị khác nhau, nhưng vì chức vụ đang gánh vác, đã gặp nhau và sát cánh cộng tác, vì cùng có trách nhiệm phải trực diện đối đầu với cộng sản phi-nhân vô-thần . . . Trước sau, hai Vị đã hội ngộ tất cả 7 lần cho nhiệm vụ chung: khai tử chủ nghĩa cộng sản quốc tế đang cố biến nhân loại thành nô lệ cho một chủ thuyết phiêu lưu không tưởng . . .

     Đức Giáo Hoàng đã bất chấp nguy hiểm đến tánh mạng, lại cho dàn xếp để trở về thăm Ba Lan hai chuyến nữa, để kín đáo tiếp lửa cho công đoàn “Solidarity” . . . Về đến Ba Lan lần thứ nhì vào ngày 16 tháng 6 năm 1983, ngài đã quỳ xuống hôn đất quê hương, trước cả 2 triệu tín đồ tụ tập nghênh đón ngài trở lại sau khi bị mưu sát, bất chấp lệnh thiết-quân-lực. Tướng Jaruzelski, lãnh tụ cộng đảng Ba lan cũng có mặt trong thành phần nghênh đón. Lần này, Đức Thánh Cha cũng chưa trực tiếp công khai đề cập đến công đoàn “Solidarity”. Tuy vậy, lời hiểu dụ của ngài cũng chẳng êm tai chút nào cho tướng Jaruzelski. Ngoài việc thăm hỏi đồng bào, thuyết giảng phúc âm, kêu gọi giữ vững niềm tin, Ngài đã mượn ý thánh kinh mà nhắn nhủ: “Các con đừng sợ hãi. Cha sẽ ở cùng các con, từ bây giờ và mãi mãi, cho đến ngày tận thế”.

     Tháng 2 năm 1987, cộng đảng Ba Lan có ý mở cửa để đối thoại với Giáo hội. Tổng Thống Hoa Kỳ Reagan liền đẩy mạnh thêm, bằng cách quyết định bãi bỏ lệnh cấm vận kinh tế Ba Lan, để kéo tướng Jaruzelski ra xa hấp lực của một điện Cẩm Linh đang trên đà suy yếu, đồng thời cũng để lót đường cho Đức Giáo Hoàng về thăm Ba Lan một chuyến quyết định dứt điểm nữa. Tháng 6 năm đó, chỉ đúng 4 tháng sau khi Hoa Kỳ bãi bỏ cấm vận, Đức Thánh Cha lại trở về thăm Ba Lan lần thứ ba. Lần này, khác với hai lần trước, ngài đã thăm viếng nhiều nơi khắp nước Ba Lan. Lần này, ngoài việc rao giảng về nhân quyền, ngài đã làm điều mà đồng bào của ngài từ lâu mong đợi: ngài đã ca tụng sự kiên trì đấu tranh bất bạo động của công đoàn “Solidarity”, phương thức không đổ máu duy nhất sẽ đưa đến giải thoát người dân Ba Lan. . .

     Về phần Tổng Thống Hoa Kỳ thì, ngoài việc ngấm ngầm yểm trợ cho Tòa Thánh tạo áp lực nơi “cái ngọn” Ba Lan, ông Ronald Reagan còn kéo “cái gốc” Liên Bang Sô Viết vào một cuộc chạy đua vũ khí, vốn là ngón sở trường của điện Cẩm Linh trong suốt cuộc chiến tranh lạnh. Nhưng cuộc chạy đua lần này, không phải là chạy đua vũ khí cổ điển, mà là chạy đua vũ khí “star war”, với bấm nút, với “stealth technology” mà mắt radar, với “laser”, với “satellite” từ thượng tầng không gian, với phi-đạn diệt hỏa tiễn liên-lục-địa . . . Thua kém xa về kinh tế và tài chính, không còn đủ mạnh để hù, để “làm nư” như từ thời Nikita Kruschev về trước, cuối cùng Mikhail Gorbachev đuối hơi, đành bỏ cuộc, vội vã đưa ra những sáng kiến “Glasnot” (cởi mở) và “Perestroika” (tái xây dựng) . . . để chỉ mong cứu vãn chính nước Nga, nhưng cũng đã muộn. Tháng 11 năm 1987, đúng 5 tháng sau khi Đức Giáo Hoàng về thăm Ba Lan lần thứ ba, chủ tịch Gorbachev cũng đến thăm Ba Lan. Ông Gorbachev đã nói thật với tướng Jaruzelski rằng, cho đến nước này, thì cộng đảng Ba Lan không thể cai trị mà không có sự hợp tác của công đoàn “Solidarity”! Trước khi rời tòa Bạch Ốc ở cuối nhiệm kỳ 2, mùa thu năm 1988 Tổng Thống Reagan đã viếng thăm Âu châu và Tây Đức. Ông đã dừng lại đọc một bài diễn văn tại “bức tường ô nhục” ngăn cách đông tây Bá Linh. Và ông đã gọi đích danh chủ tịch nhà nước Liên Sô: “Mr. Gorbachev, hãy kéo sập bức tường ô-nhục này”.
     
     Ngày 5 tháng 4 năm 1989, cộng đảng Ba Lan và công đoàn “Solidarity” đã ký kết thỏa hiệp, đồng ý tổ chức bầu cử vào tháng 6 năm 1989. Nhưng không kịp, nên mãi đến cuối năm sau, tháng 12 năm 1990, cuộc bầu cử mới được tiến hành. Trước đó, nhà tù được mở ra. Sau 9 năm bị bắt bớ giam cầm, anh công nhân Lech Walesa đã đắc cử Tổng Thống Ba Lan. Nhìn gương lân bang của mình, cộng đảng Hung (Hungary) cũng đã nhượng bộ, cho bầu cử quốc hội đầu tiên ngày 19 tháng 10 năm 1989, và nhanh chóng ban hành luật đa nguyên đa đảng, điều mà cộng sản Việt đến nay vẫn chưa dám làm, sau 37 năm cầm quyền! Các lãnh tụ Đông Đức sau cùng là Honecker (cầm quyền 18 năm) và Egon Krenz (một tháng rưỡi sau chót) phải từ bỏ quyền hành, bước xuống giữa tháng 10 năm 1989. Bức tường ô nhục bị san bằng ngày 9 tháng 11 năm đó cho dân chúng hai miền đông tây thông thương qua lại, đưa đến việc thống nhất nước Đức ngày 3 tháng 10 năm 1990.

     Ngày 24 tháng 10 năm 1989, Tổng Bí Thư cộng đảng Tiệp Khắc là Milos Jakes từ chức. Kết quả cuộc bầu cử trong dân chủ sau đó, đã đưa kịch-tác-gia Vaclav Havel lên chức Tổng Thống, cầm đầu một chính phủ liên hiệp, với vài tổng bộ trưởng là cựu cán bộ cộng sản. Cuộc biển dâu thay thầy đổi chủ ở toàn vùng đông âu đã diễn ra tương đối êm thấm, không đổ máu, ngoại trừ trường hợp của Lỗ Ma Ni (Roumania). Lãnh tụ cộng đảng Lỗ là Nicolai Ceausescu đã mù quáng, không chịu  thấy cơ trời, ngoan cố đưa quân đàn áp phong trào tự do dân chủ. Sau khi gây thương vong cho khoảng 80 nghìn quân dân nước Lỗ, Ceausescu đã thất bại và chạy trốn. Nhưng đã bị dân chúng nhận diện và bắt được tại một làng quê hẻo lánh, đem ra xử tử ngay tại chỗ, oái oăm thay, lại đúng vào ngày 25 tháng 12 năm 1989!
   
     Giở những trang sử cận đại của vùng đông âu, một thời đau khổ dưới gót giày phát xít, rồi liền sau đó lại quằn quại dưới ách cộng sản, đã nhanh chóng vững tiến trên sinh hoạt dân chủ tự do, người ta không khỏi cảm thấy đau lòng khi nghĩ tới cả trăm triệu người bất hạnh, cho đến nay vẫn còn đang bị cộng sản kềm kẹp tại Bắc Hàn, Cuba và Việt nam, chưa kể Trung cộng. Đến gần cuối thế kỷ thứ 20, sau khi gieo tang tóc cho hàng chục triệu sanh linh, chủ thuyết phi nhân vô thần đó đã rơi xuống hố sâu tự hủy diệt, chỉ trừ có một vài ốc đảo còn sót lại như Trung cộng, Bắc Hàn, Cuba và việt cộng. Chỉ có Trung cộng đang phát triển về kinh tế, nhưng chính tiến bộ này cũng đã gây ra rất nhiều khó khăn nan-giải cho tầu cộng trên nhiều lãnh vực khác, ngày càng chồng chất, như thiếu hụt năng lượng trầm trọng, như tàn phá môi sinh dọc sông Cửu Long, như không ngăn chặn bưng bít được ngọn gió đòi tự do dân chủ đang nương theo đà tiến hóa trên toàn cầu  xâm nhập vào . . . Còn Bắc Hàn, Cuba và việt cộng, thì rõ ràng đang là những ngọn đèn dầu leo lét trước luồng gió tự do dân chủ trong cao trào tiến hóa tự nhiên của nhân loại. Dĩ nhiên lịch sử không phải là chuyện một ngày một bữa, nhưng cái gì thăng, tất phải có trầm, và chuyện thay đổi tự nhiên, chỉ là vấn đề thời gian . . .

     Cuối cùng rồi, gần cuối thế kỷ thứ 20, câu hỏi lỗ mãng của Joseph Stalin đã được trả lời. Tổng Thống Hoa Kỳ Ronald Reagan đã không gởi một sư đoàn nào đến thủ phủ của thiên đàng vô sản hay vùng đông âu. Đức Giáo Hoàng John Paul II lại càng chẳng cần có một người lính nào, đừng nói chi đến sư đoàn, ngoài trừ toán gác danh dự gốc Thụy Sĩ với y phục màu mè sặc sỡ cổ truyền tại tòa thánh. Mặc dù vậy, lịch sử đã minh chứng, Joseph Stalin và những kẻ kế vị đã không phải là vĩnh viễn vô địch . . .

Lê Phàm Nhân