Thứ Hai, 25 tháng 3, 2013

QUỐC HẬN 30/4


QUỐC HẬN 30/4

Nguyễn Văn Chức
           
           
           
            Cách đây gần 34 năm, trong phiên họp Đại Hội Đồng Liên Hiệp Quốc tại Genève ngày 21.7.1979 về vấn đề Đông Dương,, Cao Uỷ Tỵ Nạn của Liên Hiệp Quốc đã long trọng tuyên bố trước thế giới rằng: tất cả những người  Đông Dương bỏ nước ra đi sau biến cố 1975 đều là Tỵ Nạn Chính Trị và đuợc hưởng quy chế Tỵ Nạn Chính Trị.
            Đó là  quy chế của Liên Hiệp Quốc, trên bình diện luật  pháp của Liên Hiêp Quốc.        
            Chúng ta nên nhớ: lúc đó là thời cực thịnh của Trung Cộng, Liên Sô, Đông Âu và những nuớc không liên kết . Tất cả cái khối ấy đè nặng lên Liên Hiệp Quốc. Đọc lại tài liệu xưa, chúng ta thấy: tiến sĩ Kurt Waldeim, tổng thư ký Liên Hiệp Quốc thời đó , đã  phải vô cũng thận trọng.
            Có hiểu như vậy, chúng ta mới ý thức trọn vẹn  đuợc lời tuyên bố của Cao Uỷ Tỵ Nạn Liên Hiệp Quốc liên quan đến quy chế tỵ nạn chính trị của Người Việt Tỵ Nạn.
            Phải chăng: Cao Uỷ Tỵ Nạn Liên Hiệp Quóc đã nhìn thấy sự thật, nhưng không thể nói ra. Sự thật đó là : “cuộc ra đi của Người Việt Tỵ Nạn đứng ở một bình diện cao hơn bình diện của quy chế và cuả luật pháp, kể cả quy chế và luật pháp Liên Hiệp Quóc. Đó là bình diện của Con Người VN. Của nhân dân VN .Và  của dân tộc VN”.
            Thực vậy.
            Ròng rã hơn mười thế kỷ, giặc Tầu đô hộ nhân dân ta, và phạm muôn vàn tội ác đối với nhân dân ta. Những tiếng thét căm hờn trong bài Bình Ngô Đại Cáo của Nguyễn Trãi không những chỉ áp dụng riêng cho quân Minh, mà áp dụng cho toàn thể ách đô hộ của giặc Tầu, một ách đô hộ vô cùng man rợ “ Nướng dân đen trên ngọn lửa hung tàn, vùi con đỏ xuống hầm tai vạ,  bại nhân nghĩa nát cả càn khôn, nặng khóa liễm vét không sơn trạch” .    
            Nhưng, lịch sử còn đó, người Việt đã không bỏ nước ra đi.
            Giữa thế kỷ 19, giặc Pháp xâm lăng nước ta, “đô hộ và đầy đoạ dân ta”. Tại đại hội Đảng Cộng Sản quốc tế lần thứ 5 ở Mạc tư Khoa tháng 7 năm 1924, trong tài liệu Nguòi Cùng Khổ (Le Paria) và  Bản Cáo Trạng Chống Chế Độ Thực Dân Pháp (Le Procès Contre le Colonianisme francais)—do cụ Nguyển  Thế Truyền và Ls Phan Văn Truờng viết  -- Nguyễn Ái Quốc, tức  tên giặc già Hồ Chí Minh, đã  lớn tiếng tố cáo tội ác của thực dân Pháp đối với nhân dân ta.  Nguyễn Ái Quốc cũng đã kể ra muôn vàn thống khổ của nhân  dân ta dưới ách thực dân Pháp. Nhưng, lịch sử còn đó, người Việt đã không bỏ nước ra đi.
            Năm  1945, giặc Nhật xâm chiếm  và  tàn phá nước ta. Trận đói năm Ất Dậu (1945), hai triệu dân ta chết thê thảm.            Nhưng, lịch sử còn đó, người Việt không bỏ nước ra đi
            Năm 1956, “đế quốc Mỹ xâm lược miền Nam Việt Nam , và phạm muôn vàn tội ác đối với nhân dân VN”-- tôi vừa nhắc lại lời của tên giặc già Hồ  Chí Minh.. Nhưng, lịch sử còn đó, người Việt cũng đã không bỏ nước ra đi.

*
           
            Nhưng năm 1954, khi Việt Cộng tiếp thu miền Bắc, thì gần một triệu đồng bào  miền Bắc  di cư vào Nam. Và tháng Tư năm 1975, khi Việt Cộng tiếp thu Miền Nam thì hàng trăm ngàn người Việt bỏ nước ra đi.  Rồi sau đó, đằng đẵng hơn 10 năm , khoảng ba triệu người Việt đã bỏ  nước ra đi.
            Người Việt bỏ nuớc ra đi, không phải để tránh thiên tai bệnh tật. Mà vì một sứ mạng : đem tự do về cho quê hưong đất nước.
            Người Việt bỏ nước ra đi, đại đa số với hai bàn tay trắng. Họ phải vuợt qua cả một đại dương đầy sóng gió, trên những con thuyền mong manh, làm mồi cho đói khát, bão tố và cướp biển . Và khi ra đi, họ đã cầm sẵn cái chết trên tay. Bao nhiêu gia đình đã chết trên biển cả! Bao nhiêu gia đình đã bị  cướp  bóc, bị hành hạ, bị đánh đập, và bị giết trên biển cả! Bao nhiêu  phụ nữ, em bé gái, đã bị hải tặc hãm hiếp dã man, đánh đập, và bắt mang đi mất tích ! Thế mà Người Việt vẫn lũ lượt ra đi.          
            Tại sao lại có hiện tượng kỳ lạ đó?
            Chắc chắn không phải vì họ không chịu được sự kham khổ trong cái chế độ mang tên Cộng Hoà Việt Nam Xã Hội Chủ Nghĩa, như  tên thủ tướng VC Phạm Văn Đồng đã tuyên bố trước Hội Nghị Các Nước Không Liên Kết tại Cuba năm 1978.  Bởi lẽ : giữa cái khổ và cái nguy hiểm đến tánh mạng, con nguời vẫn chọn cái khổ. Nhất là đối với người Việt Nam, thà lam lũ trên quê huơng mình, còn hơn  tha phương cầu thực; thà yên phận bên cạnh mồ mả ông cha , còn hơn mất  xác trên sông trên biển, hoặc gửi xác nơi quê nguời.
            Câu hỏi lại đuợc đặt ra: tại sao người Việt bỏ nước ra đi? Đến đây, chúng ta hãy nhìn vào lịch sử thế giới.
            Năm 1945, khi Đức Quốc Xã xâm lăng và thống trị  Đông Âu, dân chúng địa phương không bỏ nước ra đi.  Nhưng khi cộng sản lên cướp chính quyền, thì dân chúng điạ phương lũ lượt ra đi. Ba Lan, Hung Gia Lợi, Bảo Gia Lợi, Tiệp Khắc, Lỗ  Ma Ni, Đông Đức, v. v...
            Rồi sau đó là Trung Hoa, A Phú Hãn, Cu Ba.  CS đến đâu, thì ở đó  “đồng bào ruột thịt”  chạy trốn. Chạy trốn chính những kẻ đến giải phóng họ.
           


            Cách đây gần 40 năm, năm 1969, trong chuyến đi dự Đại Hội Liên Hiệp Nghị  Sĩ Quốc Tế (Union Interparlementaire ) tại Hoà Lan, tôi gặp một ông già Ba Lan làm nghề khuân vác. Tôi hỏi tại sao lại bỏ nuớc ra đi. Ông nói:  “Quân Đức đến, dân chúng tôi không ra đi, nhưng cộng sản đến, dân chúng tôi phải ra đi. Sống dưới chế độ cộng sản, là cả một sự tuyệt vọng, Tuyệt vọng không đuợc làm người. Cộng sản vừa là quỷ vừa là súc vật.”
            Thì ra, tỵ nạn cộng sản không phải là vấn đề của NGƯỜI CÔNG DÂN chống lại NHÀ NƯỚC, nhân danh quyền chính trị. Cũng không phải là vấn đề chạy trốn một thiên tai ôn dịch.  Mà là vấn đề của CON NGƯỜI chống lại QUỶ VÀ SÚC VẬT , nhân danh quyền làm người.
            Hiển nhiên, trên thế giới, không cộng sản nào quỷ và súc vật bằng cộng sản VN. Và trên thế giới,  không dân tộc nào tha thiết đến quyền làm người bằng dân tộc VN. Hai sự kiện này đã giải thích một sự kiện thứ ba: trong lịch sử nhân loại tự cổ chí  kim, chưa có cuộc ra đi nào đông đảo, ròng rã, thê thảm nhưng can trường, bằng cuộc ra đi của Người Việt Tỵ Nạn.
            Lịch sử nhân loại  sẽ mãi mãi nhắc đến cuộc ra đi này. Và lịch sử  sẽ  không quên ghi nhận một  điều: chúng ta, Người Việt Tỵ Nạn,  đã chịu đựng tất cả bất trắc khổ sở nhục nhằn hiểm nguy, để tồn tại. Không tồn tại  như những người ra đi  vì cơm áo hoặc vì  thiên tai .Mà  tồn tại như những  ngừời ra đi vì tự do, với  sứ mạng đem tự do về cho quê hương đất nước.  Tồn tại để vươn lên, và tồn tại để chiến thắng.
            Nhìn lại  ba muơi năm qua,  chúng ta có quyền  tự hào. Chúng ta đã  vươn lên và đã chiến thắng. Vươn lên và chiến thắng cùng với là cờ vàng  ba sọc ngạo nghễ khắp năm châu.
            Hơn ai hết, Việt Cộng đã  ý thức được điều dó.  Nghị Quyết số 36/NQ/TU ngày 24/ 3 / 2004 của chúng nó đã mặc nhiên nhìn nhận:  người Việt Tỵ Nạn không ra đi vì miếng cơm manh áo, cũng không ra  đi để tránh thiên tai bệnh tật , mà ra đi vì  một sứ mạng lịch sử.  Sứ mạng đó là : “cùng với nhân dân trong nuớc đấu tranh  đem  tự do dân chủ cho quê hương VN”.
            Trong  chuyến đi Úc và đi Mỹ hồi tháng 5 và tháng 6 năm 2005 tên thủ tuớng VC Phan Văn Khải cũng đã nhìn thấy sự thật, khi ôm đầu chạy như con chó trước hàng ngàn đồng bào hải ngoại và lá cờ vàng ba sọc.  Khỏi cần nói đến chuyến đi Mỹ  chữa bệnh của tên viện trường  cò mồi  rẻ tiền Hoàng Minh Chính tháng 10/2005 .

*

            Trong đại tác phẩm The Gulag Of Archipelago cũng như trong bài diễn văn nhận giải Nobel năm 1970, văn hào Solzhenitsyn đã lớn tiếng suy nghĩ:  “Tội ác lớn nhất của những nguời được hưởng tự do là im lặng.” Im lặng trước những tội ác của bạo quyền CS. Im lặng truớc những thống khổ của đồng bào mình đang phải  sống dưới ách bạo quyền  CS.
            Dương Thu Huơng, Hà Sĩ Phu, Nguyễn Vũ Bình, Lê Chí Quang, Phạm Hồng Sơn,v,v..Họ là ai ? Họ là những người đang sống trong tầm huỷ diệt của bạo quyền, nhưng đã dám đứng lên vạch mặt tội ác cuả bạo quyền, bất chấp ngục tù và coi thường cái chết.  Chúng ta ở hải ngoại, nghĩ gì truớc những tấm gương anh hùng  ấy?
            Tôi vừa đặt câu hỏi, và xin trả lời.
             Từ ba mươi năm nay, chúng ta đã không ngừng chiến đấu để đem lửa chiến đấu về quê hương, đồng thời đem lửa chiến đấu từ quê hương ra hải ngoại.  Những đóa hoa mà chúng ta ở  hải ngoại dâng lên mẹ Việt Nam đẹp lắm, và gồm đủ mầu sắc. Mầu sắc của báo chí chống cộng , của văn hoá chống cộng, của anh em cựu chiến sĩ QLVNCH chống cộng, của tập thể Người Việt Tỵ Nạn chống cộng. Và của lá cờ vàng  ba sọc ngạo nghễ.
            .
*

            Hiện nay, cuộc chiến đấu chống bạo quyền của nhân dân ta trong và ngoại nước đang bước vào giai đoạn quyết liệt. Kẻ thù, tức bạo quyền Việt Cộng ,ngày càng suy yếu, đang khi đó cường độ của chống đối ngày càng gia tăng.
            Có thể nói rằng :chưa bao giờ bạo quyền  VC lo sợ như bây giờ. Vì vậy chúng ta , Người Việt Tỵ Nạn Cộng Sản, lại càng phải tiến tới để  cùng với đồng bào trong nước lật đổ bạo quyền, và  thay thế  vào đó bằng môt chính quyền cuả dân, bởi dân và vì  dân trong một cuộc tổng tuyển cử –tôi xin mượn lời cuả Mikhael. S. Gorbachev--hợp pháp, lương thiện và dân chủ..
          Và chúng ta đừng quên : Việt Cộng hiện đang  phải căng da mặt, che hàm răng chó sói, để “hòa hợp dân tộc”, để “xây dựng dân chủ”, để đánh lừa dư luận, nhất là dư luận Mỹ.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét