Thứ Ba, 31 tháng 12, 2013

Đường mòn Hồ chí Minh

Máu và nước mắt của QLVNCH trên đường Trường Sơn trong chiến cuộc Đông Dương 1955-1975

Một năm sau ngày miền Nam bị cưỡng chiếm, phái đoàn Bắc Việt do Trường Chinh đại diện và Ðảng Bộ Việt Cộng miền Nam tức Mặt Trận Giải Phóng MN, dưới quyền Phạm Hùng, đã chính thức họp tại Sài Gòn, để khai tử cái Mặt Trận “MA”, được Hà Nội dàn dựng và khai sinh từ ngày 20-12-1960, nhằm lường gạt dư luận thế giới và dân chúng trong nước, qua âm mưu thôn tính VNCH. Cũng từ đó (1976), cái gọi là con đường huyền thoại Hồ Chí Minh, tức đường mòn Trường Sơn với bí danh 559A, hành lang để Hà Nội chuyển tiếp liệu, quân dụng và người vào Nam, từ năm 1959 tới ngày 30-4-1975, cũng bị đảng nhận chìm trong quên lãng.

            Bắt đầu từ năm 1989 tới 1991, đã có nhiều biến cố chính trị quan trọng xảy ra tại Ðông Âu. Ðó là việc các nước chư hầu, lần lượt từ bỏ xã hội chủ nghĩa, kéo theo sự sụp đổ và tan rã của Liên Bang Sô Viết. Ðể cứu đảng khi đã mất cái dù che của Nga, Việt Cộng lại ngả về Tàu, đồng thời mở khẩu đổi mới, trải thảm đỏ, mời Hoa Kỳ, Nhật và Tây Phương vào làm ăn buôn bán. Nhờ vậy lớp son phấn che kín bản mặt thật của đảng, dần hồi bị xói mòn, bởi các tệ trạng tham nhũng, cướp bóc nơi cửa quyền và nhất là sự kiện đảng công khai bán nước cho ngoại bang, hèn nhục để cho dân mình bị Tàu Cộng bắn giết trên biển vào tháng 1-2005, đã làm cho cả nước không còn hãi sợ và tin Việt Cộng, kể cả một số không ít trí thức khoa bảng NamVN trước đây, từng tin đảng là chính nghĩa, làm cách mạng chỉ để giải phóng đất nước bị Mỹ-Ngụy kềm kẹp bóc lột.

            Ðể bảo vệ đảng cũng như quyền lợi của chóp bu đang hồi tiến nhanh tiến mạnh, Hà Nội lại lùi một bước, quay về với chiến lược cũ rích năm nào. Ðó là dùng lịch sử để lường gạt đồng bào và “Việt kiều” thêm lần nữa. Ðảng đem những huyền thoại trên trời dưới biển năm nao, ra hâm nóng lại tinh thần yêu nước là “yêu nước xã hội chủ nghĩa” của cán bộ đảng viên, đang bị phân hoá lung lay niềm tin tới tận gốc, vì dành ăn, tranh quyền và ganh tị lẫn nhau bởi “trâu cột ghét trâu ăn”. Ngoài ra, đảng cho trùng tu lại các di tích chiến tranh, như Ðịa đạo Vĩnh Mốc (Vĩnh Linh-Quảng Trị), Củ Chi (Hậu Nghĩa), cũng như tái tạo lại con đường mòn Hồ Chí Minh. Công tác trên vừa có tính cách xoa dịu tự ái của những đảng viên bộ đội già bị vắt chanh bỏ vỏ, sau khi tàn chinh chiến. Ðồng thời lần nữa lừa bịp cũng như móc túi bọn du khách ngoại quốc, trong đó có không ít “Việt Kiều trí thức” Miền Nam ngày xưa trốn quân dịch, nên có bao giờ biết cũng như nếm được mùi chiến tranh bom đạn, và đám da trắng giàu có đa sự. Bọn này rất muốn biết và nhìn tận mắt con đường mà Hoa Kỳ, nói là đã oanh tạc một số bom đạn, nhiều hơn số lượng đã xử dụng trong thời đệ nhị thế chiến nhưng vẫn không ngăn nổi người và quân dụng Bắc Việt vào Nam.

            Việc đẻ ra kế hoạch “mười năm du lịch” 1995-2005 “của Võ văn Kiệt tại nghị định số 307 ngày 24-5-1995, cũng là một trong những sự sao y bản chánh của Trung Cộng, vì thấy Ðặng tiểu Bình đã thành công, khi xây dựng các khu du lịch và công nghiệp tại Thẩm Quyến, Hải Nam, Thượng Hải.. Từ đó Hà Nội đã bất chấp thực tế, vẫn hồng hơn chuyên, bỏ hằng tỷ bạc ngân sách quốc gia, để xây dựng nhà máy lọc dầu Dung Quất và thành phố Vạn Tưởng, tại Quảng Tín-Quảng Ngãi, trước sự mai mỉa cười chê của thế giới. Khắp nước nơi nào cũng tổ chức các tour du lịch, để hốt bạc và tuyên truyền bộ mặt son phấn mới của VN xã nghĩa. Ngay chốn khỉ ho cò gáy như miền giới tuyến năm nào trong tỉnh Quảng Trị, cũng có một tour du lịch, từ Cửa Việt lên tới Khe Sanh, Tà Cơn, Cầu Treo DakRong, ngã ba QL9 và đường mòn HCM, gọi là The Demilitarized zone tour, thường viết tắt là D.M.Z. Mục đích để đảng quảng cáo các chiến lợi phẩm thời chiến tranh và cái gọi là nghĩa trang liệt sĩ Trường Sơn, mà theo thân nhân của người quá cố, trong hòm chỉ có cát-đất, xương thú vật mà thôi.

            Có đọc trường thiên ký sự “Ðường đi không tới” của nhà văn VC hồi chánh là Xuân Vũ, hay đã làm lính VNCH, mới cảm nhận được cái ý vị khổ nhục cùng tận của cuộc chiến Ðông Dương lần 2 (1955-1975), do Ðệ tam quốc tế cọng sản chủ xướng, qua vai trò tên lính tiền phương đánh mướn là Việt Cộng. Trong cuộc chiến vô nghĩa phi lý này, mặt trận tại Trường Sơn, đã là mồ chôn hằng vạn tử sĩ của cả hai phía. Những địa danh như Dốc pháo cụt, Ðồi không tên, Sông A-Vương, Lũng Giằng, Khe Sanh, Dakto, A-Shau, Ia-Drang, Pleime, Ðức Cơ.. ra tận miền Bắc, càng lúc càng trở nên khốc liệt, khi nó chính thức trở thành con đường chiến lược để Bắc Việt xâm lăng VNCH. Suốt thời gian chiến tranh, Võ Nguyên Giáp qua tư cách Ðại Tướng tổng tư lệnh quân đội VC, đã từng tuyên bố với báo chí quốc tế, là hắn sẽ đốt rụi Trường Sơn, dù phải đem giết hết thanh niên nam nữ miền bắc. Cho nên không lạ khi thấy Xuân Vũ nói “ mạng người lá rụng”, để viết về thảm kịch Ðường Ði Không Tới, của một số cán binh bộ đội hồi kết năm nào.

            Tháng 11-1997, Võ nguyên Giáp khoe thành tích Bát Quái Ðồ, tức là đường Trường Sơn 559, do Ðinh Ðức Thiện và Ðồng Sĩ Nguyên lần lượt chỉ huy suốt cuộc chiến từ 1960-1975. Ngày xưa thế giới đui mù vì bị bọn trí thức khoa bảng, cha-sư miền Nam tuyên truyền lật lọng, nên chẳng bao giờ thấy được hình ảnh bộ đội cọng sản “sinh bắc tử nam”, khi ồ ạt vượt vĩ tuyến 17, vào đường mòn HCM, để tấn công cưỡng chiếm Miền Nam thanh bình no ấm, như họ đã thấy tại bán đảo Triều Tiên, vào tháng 6-1950, qua cuộc chiến Cao Ly. Nhưng biết sớm hay muộn cũng giống nhau, vì ngày nay trên khắp nẻo đường Trường Sơn năm cũ, từ Bắc Việt vào tới Phước-Bình Long, hằng ngày đã có hằng vạn nguời Việt , đói rách bị chĩa súng có gắn mã tấu sau lưng, để bắt họ làm nghĩa vụ lao động. Cũng qua cái hình ảnh đau thương này, đã làm cho mọi người trong cuộc của cả hai phía, chợt nhớ tới những cô gái Trường Sơn năm nào, luôn mỏi ngóng các chàng lính trận có lần đã đi vào con tim của họ. Ðể rồi từ đó tới nay, tuổi xuân tháp cánh lưng trời, mà bóng ai vẫn biền biệt, như cái huyền thoại Trường Sơn, thật sự đã chết trong tâm tư đồng bào sơn cước, khi họ bị VC cướp đất, lừa bịp.. sau khi đất nước đã có hòa bình.

“mai về quê mẹ, lên biên giới
thăm lại Trường Sơn thuở kiếm cung
rừng núi vẫn xanh màu khát vọng
chỉ ta hờn tủi, kiếp tha hương ..”

1- Bối cảnh lịch sử có liên quan tới chiến cuộc Ðông Dương lần thứ 2 (1955-1975) :

            Ngày 7-5-1954 Ðiện Biên Phủ thất thủ, nước VN tạm thời bị chia cắt thành 2 miền riêng biệt, với 2 thể chế khác nhau, do cái gọi là tứ cường Liên Xô, Anh, Pháp và Trung Cộng tự ý quyết định số phận của đất nước và dân tộc VN, tại bàn hội nghị Genève (Thụy Sĩ). Hoa Kỳ lúc đó là đồng chủ tịch nhưng vì một lý do gì đó, nên không ký vào biên bản. Từ đó, Bắc Việt do Hồ Chí Minh “lãnh đạo”, công khai theo chế độ cọng sản và là chư hầu của Nga-Tàu. Miền Nam chọn chính thể Cọng Hòa. Hai miền VN lấy vĩ tuyến 17, cũng là con sông Bến Hải, tỉnh Quảng Trị, làm ranh giới tạm chia. Theo tinh thần hiệp ước đình chiến, quân viễn chinh Pháp phải rút hết về nước, còn VC trong mặt trận Việt Minh tại miền Nam, cũng phải tập kết ra bắc.

            Từ khi chính thức làm trùm nửa nước, Hồ Chí Minh và đảng VC, theo chân Mao Trạch Ðông, phóng tay phát động phong trào cải cách ruộng đất năm 1956, làm cho hằng vạn người dân vô tội tại miền bắc, bị đấu tố chết thảm thương, trong số này hầu hết đều có công với nước hay với đảng trong chín năm kháng chiến chống Pháp. Nội vụ được giấu kín hay được bọn trí thức khoa bảng da trắng thân cộng như G.Kolko, tác giả quyển “ VN Anatomy of wars 1940-1975”  tuyên truyền hoàn toàn trái ngược với sự thật. Trong khi đó, tình hình chính trị của miền Nam từ A - Z, bị bọn trí thức thân cộng trong và ngoài nước, moi móc, bịa đặt đủ điều với mục đích làm mất chính nghĩa quốc gia của người miền Nam, trong lúc đang chiến đấu chống lại sự xâm lăng của cọng sản đệ tam quốc tế .

            Tại VNCH, những năm đầu tiên, TT Ngô Ðình Diệm đã gặp rất nhiều khó khăn, trong việc đương đầu với với các Giáo phái và lực lượng Bình Xuyên. Lợi dụng giậu đổ bìm leo, VC nằm vùng tại miền Nam đã phát động các cuộc nổi loạn võ trang, gọi là đồng khởi tại Trà Bồng (Quảng Ngãi), Bắc Ruộng (Bình Thuận) và Mõ Cầy (Bến Tre), song song với các vụ khủng bố, ám sát đồng bào và viên chức xã ấp khắp nơi nhưng cuối cùng mọi hành động phá rối của VC đều thất bại. Theo hầu hết các nguồn sử liệu còn lưu trữ, cho biết tình hình chính trị tại VNCH, vào những năm 1956,1957, 1958 rất khả quan từ Sài Gòn cũng như các tỉnh, nơi thị tứ cho tới chốn quê làng, đâu cũng vui sống cảnh thanh bình no cơm áo ấm. Nhờ vậy TT Ngô Ðình Diệm cũng như Chính Phủ Miền Nam, lúc đó đã gây được uy tín rất lớn trên thế giới.

            Trước tình hình nguy ngập đó, Hồ Chí Minh đã phải gọi Lê Duẩn, lúc đó đang làm xứ bộ trưởng, chỉ huy cán bộ nằm vùng tại miền Nam, trở ra Bắc, để duyệt xét lại kế hoạch cưỡng chiếm VNCH bằng vũ lực, thay vì kỳ vọng vào cuộc tổng tuyển cử thống nhất đất nước như Hiệp định Geneve 1954 đã qui định, mà VNCH không chịu thi hành, vì không hề ký vào biên bản hiệp ước trên. Trong phiên họp lần thứ 15 của Bộ Chính Trị Trung Ương Ðảng, khai diễn ở Hà Nội vào tháng 1-1959, quyết định thành lập Lực Lượng Vũ Trang tại Miền Nam. Kế tiếp ngày 5-10-1960, đảng lại họp Ðại Hội 3 cũng tại Hà Nội, để thành lập Ðảng Bộ cọng sản Miền Nam, qua danh xưng “ Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam”, làm cánh tay nối dài, vừa là bình phong, vừa tạo công cụ xâm lăng cho Bắc Việt. Ðúng như Lê Duẩn đã tuyên bố “Ðó là chiến lược bảo đảm thắng lợi hoàn toàn cho cuộc cưỡng chiếm miền Nam, dưới sự lãnh đạo của đảng Mác-Lê và giai cấp công nông”. Tóm lại theo chủ trương của Hà Nội, Ðảng Bộ CS miền Nam, tức MTGPMN, phải hành động theo ba mục tiêu chiến lược :

1- Ly gián đồng bào và chính quyền VNCH.
2- Ðánh lừa dư luận thế giới về cuộc xâm lăng của miền Bắc, trở thành cuộc nội chiến tại miền Nam.
3- Tuyệt đối phải tuân theo các chỉ thị của đảng, do miền Bắc lãnh đạo, Mặt trận miền Nam chỉ thừa hành, theo đúng chính sách đề cương trong khối xã hội chủ nghĩa quốc tế.

            Nên tới nay, dù được gọi bằng danh từ gì chăng nữa như Cục R, Ðảng bộ CS Miền Nam, Mặt Trận GPMN.. thì cũng chỉ là “Mặt trận mốc xì, đảng ta đó” qua lời tuyên bố trơ trẽn của Lê Ðức Thọ tại Ba Lê, sau khi vừa ký xong với Kissinger trên tờ hiệp định ngưng bắn năm 1973. MTGPMN được hợp thức hóa vào cuối tháng 12-1960 tại một căn cứ của VC, nằm cách biên giới Việt-Miên chừng 7km. Ðây là khu rừng già nằm kế cầu Cần Ðăng, trên con đường đá đỏ Trà Băng, Trại Bí, Xóm Mới, Sóc Ông Trang.. thuộc tỉnh Tây Ninh. Buổi lễ được đặt dưới quyền chủ tọa của Sáu Vi, bí danh của đại tướng VC Nguyễn Chí Thanh, ủy viên bộ chính trị, bí thư trung ương đảng, nguyên phụ trách vấn đề nông dân và thanh niên miền bắc. Mặt trận có mười nhân vật khoa bảng miền Nam, đang đối lập chính trị với VNCH, gồm Nguyễn Hữu Thọ (đang bị giam tại Củng Sơn-Phú Yên, vì tội hiếp dâm, dược VC giải thoát ), Trương Như Tảng, Dương Quỳnh Hoa, Phùng văn Cung, Ưng văn Kỳ.. Bọn này hầu hết thuộc thành phần địa chủ, phú gia thời Pháp thuộc, được VC nằm vùng là Huỳnh tấn Phát móc nối dụ dỗ. Tất cả được Hà Nội đem ra làm bung xung che mắt thiên hạ nhưng đầu não lãnh đạo, vẫn do Lê Duẫn, Lê Ðức Thọ, Phạm Hùng, Trần văn Trà, Nguyễn Chí Thanh.. quyết định theo đúng chính sách của Hà Nội đã nghị quyết. Cũng từ đó, Nguyễn Hữu Thọ được phong hàm chủ tịch Mặt Trận, mở đầu cuộc chiến xâm lăng Miền Nam bằng vũ lực. Tại Miền bắc, Hồ Chí Minh ban lệnh hồi kết, hàng chục ngàn cán binh bộ đội trở về Nam, để thành lập “Quân Giải Phóng” do Trần Văn Trà làm tư lệnh. Một số lớn Hoa kiều sống tại Hải Ninh, Hải Phòng, Hà Nội, Thanh Hóa.. cũng được vào Nam, cùng một số Hoa Kiều thân cộng, đang do Tư Méo, tức Trương Gia Triều, bí danh Trần Bạch Ðằng chỉ huy, để trà trộn, tuyên truyền gây rối trong cộng đồng người Hoa miền Nam. Ðồng thời con đường mòn giao liên cũ, từ miền bắc vào Liên Khu 5, do đại tá Nguyễn Thông, bí danh của trung tá Nhật Ishitako, mở năm 1947, cũng được đảng giao cho Hai xe ngựa tức đại tá Võ Bẳm nối lại, để trùng tu vào năm 1959. Ðây là con đường chiến lược Liên Việt, tức là đường mòn Trường Sơn hay Hồ Chí Minh, mang bí danh 559A. Sau khi Phạm văn Ðồng nhân danh thủ tướng nước VNDCCH, theo chỉ thị của đảng và chủ tịch Hồ Chí Minh, ký xác nhận quần đảo Hoàng Sa-Trường Sa thuộc Trung Cộng vào năm 1958, thì Hà Nội được Tàu Cộng, giúp phương tiện mở thêm một đường dây trên biển Ðông với bí danh 559B hay 759, chuyển quân dụng và bộ đội từ bắc vào nam bằng đường thủy. Theo Ðồng văn Cống, từng phụ trách đường dây 559B từ 1959-1968, thì việc tổ chức hai con đường bí mật trên, chỉ có Hồ Chí Minh, Phạm văn Ðồng, Lê Duẩn, Phạm Hùng, Lê Ðức Thọ, Võ Nguyên Giáp, Văn Tiến Dũng và Trần văn Trà, biết mà thôi. Còn những người khác chỉ thừa hành theo lệnh, kể cả Nguyễn Chí Thanh, Trần Ðộ, Trường Chinh..

2- Ðường Mòn Hồ Chí Minh :

            Sự thật, những chuyện đã xảy ra hằng ngày trên đường mòn HCM, tức là hành lang xâm nhập người và quân dụng, từ Bắc vào Nam của cọng sản Hà Nội, đối với Hoa Kỳ và VNCH, không phải là huyền thoại hay bí mật ghê gớm, vì những gì xảy ra ở đó, qua phi cơ thám thính và các toán Biệt Kích hoạt động, họ gần như biết đủ. Có chăng là sự lạ lùng, vì ai cũng biết VC là kẻ chủ mưu gây nên cuộc chiến Ðông Dương lần thứ 2, chứ không phải là nội chiến. Ngoài ra cuộc xâm lược qui mô đều phát xuất từ đường mòn Trường Sơn, tiếp diễn liên tục đêm ngày không bao giờ gián đọan. Thế nhưng quân lực Hoa Kỳ, Ðồng Minh và ngay cả VNCH, cũng bị chính phủ Mỹ tại Hoa Thịnh Ðốn, ra lệnh giới hạn trong lúc chiến đấu với VC, theo qui định tại nhiều điểm, được gọi là “Luật Chiến Ðấu ố Rules of Engagement”. Ngoài ra cũng không được tấn cộng hậu phương miền bắc, để tránh sự đụng độ quân sự với Trung Cộng, như đã xảy ra năm 1950, tại chiến cuộc Cao Ly.

            Năm 1985, sau mười năm chấm dứt cuộc chiến Ðông Dương lần thứ 2, Bộ Quốc Phòng Mỹ mới cho phép giảm độ mật, khi cho Congressssional Record phổ biến hạn chế, cái gọi là “Luật Chiến Ðấu tại VN” qua 26 trang tóm tắt, trong đó có liên quan tới đường mòn Hồ Chí Minh. Cũng nhờ vậy, ta mới biết được nhiều điều thật vô lý, chỉ có siêu cường Mỹ mới có. Chẳng hạn như trong luật chiến đấu, có điều 3 cấm không quân Mỹ giội bom các quân xa VC, nếu chúng ở cách đường mòn HCM 200m. Ðiều này giúp cho quân xa Bắc Việt an toàn khi chúng lái xe trên đường mòn Trường Sơn, lúc nghe máy bay Mỹ oanh tạc, chỉ cần lái xe ra khỏi vị trí 200m, là hết chuyện. Còn điều 6 thì cấm quân Mỹ truy kích VC, nếu chúng rút qua biên giới Lào hay Kampuchia. Biết vậy, nên hầu hết các căn cứ của Bắc Việt, kể cả cục R đều được lập sát hay bên kia biên giới, nên rất an toàn. Do trên các cuộc hành quân vượt biên mang tên Toàn Thắng, vào năm 1970 tại Miên hay hành quân Lam Sơn 719 ở Hạ Lào, vào thời TT Nixon, đã bị đảng Dân Chủ Mỹ thân cộng, căn cứ vào luật chiến đấu, la ó phản đối dữ dội. Cuối cùng tại Quốc Hội, cũng cái đám nghị sĩ-dân biểu đảng Dân Chủ Hoa Kỳ, ra luật cấm quân lực Hoa Kỳ hành quân vượt biên khỏi Nam VN. Những bí mật nhỏ nhoi trên, chỉ là một trong muôn ngàn điều bật mí sau này, cũng là lý do, khiến cho Mỹ cũng như VNCH, dù đã nỗ lực và hao tốn không biết bao nhiêu tiền bạc, xương máu nhưng cuối cùng vẫn không ngăn nổi cuộc tiến quân của Bắc Việt, trên đường mòn HCM.

            Theo Ðồng Sĩ Nguyên, phụ trách Binh Ðoàn 559A từ tháng 12/1966 tới tháng 4/1975, thì đơn vị này có gần 2000 xe vận tải và 4 binh trạm, với nhiệm vụ tải người và quân dụng từ miền Bắc vào Nam. Quân số của Binh đoàn 559A trên 120.000 người, gồm 10.000 thanh niên xung phong, 1 sư đoàn cao xạ phòng không của Bộ TTM/VC tăng phái và tám sư đoàn vận tải, chiến đấu trực thuộc. Sau ngày ký hiệp định ngưng bắn 1973, cọng sản Bắc Việt bãi bỏ giai đoạn gùi thồ đường đất và binh trạm, mà công khai chuyển quân từ bắc vào nam, mỗi lần cả sư đoàn tới binh đoàn, kể cả tăng-pháo, trước sự bất lực của VNCH khi Hoa Kỳ đã phủi tay về nước. Do trên cuộc hành trình chỉ mất 12 ngày, thay vì 4 tháng như trước, nên VC lúc nào cũng đủ quân số và quân dụng, vì có cả một núi người sẵn sàng “sinh bắc tử nam”, cũng như các nước xã hội anh em, nhất là Trung Cộng, hết lòng chi viện. Trong lúc đó, VNCH chiến đấu với cả khối cọng sản đệ tam quốc tế trong cô đơn nơi chiến trường, đã vậy còn bị bọn cốt người mà óc khỉ tại hậu phương, công khai đâm hùa trí mạng. Chiến đấu trong hoàn cảnh thê thiết như vậy, không mất nước mới là chuyện lạ ?

A - ÐƯỜNG MÒN TRƯỜNG SƠN :

            Hầu hết con đường chiến lược HCM đều nằm trên rặng Trường Sơn, kể cả tuyến xuất phát tại Vinh (Nghệ An), cho tới đoạn cuối cùng rẽ vào Phước Long. Rặng Trường Sơn là xương sống của Trung phần, khởi đầu từ sông Cả tới sông Bông (Quảng Nam), chạy dọc theo biên giới Việt Lào. Từ bắc vào nam, có nhiều rặng núi cao trên 2500m, như Pu-Sai-Lai-Leng ở Nghệ An cao 2711m, Vụ Quang tại Hà Tĩnh cao 2286m, A Tuất ở Thừa Thiên cao 2550m.. Nhưng nhờ có nhiều đèo như Kéo Nưa trên núi Bà Mụ, đèo Mụ Giạ ở Hà Tĩnh, đèo Lao Bảo trên quốc lộ 9, nên sự thông thương giữa Lào-Việt rất thuận tiện. Từ năm 1960 về sau, Bắc Việt lợi dụng những đường đèo trên, để nối liền nhánh Trường Sơn Ðông ở VN sang Trường Sơn Tây, hoàn toàn nằm trên đất Lào.

            Rặng Trường Sơn từ phía nam sông Bông tới Miền Ðông Nam Phần, được gọi là Cao Nguyên Nam Trung Phần, vì độ cao chỉ còn trung bình 1000m, trừ phía bắc tỉnh Kon Tum, cửa ngỏ của Bắc Việt xâm nhập vào Vùng 2 chiến thuật, lại có nhiều rặng núi cao, rất đồ sộ và hiểm trở như Ngọc Lĩnh (2598m), Movia (2338m), Ngok Krin (2215m). Tại tỉnh Pleiku, cao nguyên Nam Trung Phần, hơi cao ở mạn đông tại ranh giới các tỉnh Phú Bổn, Bình Ðịnh nhưng lại thấp dần ở Miền Ba Biên Giới. Lợi dụng địa thế thiên nhiên vùng này, Hà Nội đã làm một nhánh rẽ, từ Ðức Cơ-Pleime xuống miền duyên hải Trung phần.

            Khởi đầu từ năm 1959, đường mòn HCM do Hai xe ngựa (Võ Bẳm) sáng tạo, thật sự chỉ là một tuyến đường gùi vô cùng bí mật, với “đi không để dấu, nấu không để khói và nói không thành tiếng”. Sau đó theo thời gian và nhu cầu chiến cuộc, tuyến gùi phát triển dân thành tuyến đường thồ xe đạp, rồi đường xe ô tô với đường dây điện thoại cùng hệ thống ống dẫn dầu, chạy song song kế đường mòn. Có thể gọi đây là một Bát Trận Ðồ cũng không ngoa chút nào vì con đường có tới hằng trăm, hằng ngàn nhánh nhỏ, chạy chằng chịt dọc ngang, từ đông sang tây, khắp nam tới bắc, chẳng biết đâu mà mò, kể cả VC, nếu không có giao liên hướng dẫn, vẫn bị lạc chết đói, như Dương Thu Hương đã kể trong tiểu thuyết “Vô Ðề”. Sau năm 1973 khi hiệp định ngưng bắn ra đời, Kissinger cho phép quân Bắc Việt ở lại VNCH hợp pháp như là một thực thể chính trị, giúp Hà Nội ngang nhiên xây dựng con đường chiến lược trên, thành một xa lộ đất, xe cộ xuôi ngược rộn rịp đêm ngày. Năm 1974, chủ tịch cọng sản Cuba là Fidel Castro đã tặng cho Hà Nội, một dàn thiết bị máy móc, làm cầu đường do Nhật chế và còn giúp một đơn vị công binh, tới tận Quảng Trị hướng dẫn công binh Bắc Việt, làm chiếc cầu dây treo Dakrong, nằm trên ngã tư Khe Sanh-Tchépone và đường mòn. Sau đó chính Fidel Castro tới tận chỗ để làm lễ khánh thành cầu, còn được hướng dẫn đi thăm Ðông Hà, mà Bắc Việt khoe là vùng giải phóng, từ sau trận Mùa Hè Ðỏ Lửa năm 1972.

            Theo các tài liệu hiện hành của cả mọi phía, có trong thư viện và báo chí VC sau này, thì hệ thống đường mòn HCM, chạy dài từ Trung Lào tới Cam Bốt, sự thật là hoàn toàn nằm trên lãnh thổ Lào-Miên. Con đường này được xâm nhập vào lãnh thổ VNCH bằng năm nhánh rẽ với 21 trục giao liên, có chiều dài tính theo đường đất tổng cộng hơn 12.000 dặm Anh. Con đường được mang nhiều tên và chỉ có đọan trên lãnh thổ Bắc Việt, mới được gọi là đường Hồ Chí Minh. Riêng khúc đường chạy trong lãnh thổ Lào và Nam VN lại có nhiều tên như đường Thống Nhất, Dân Tộc Giải Phóng và Cách Mạng. Còn đoạn cuối trên đất Miên là đường mòn Sihanouk. Ðể bảo toàn bí mật, tất cả hàng hóa, quân dụng, vũ khí và bộ đội xuất phát từ ga Hàng Cỏ (Hà Nội) hay Vinh (Nghệ An), đều được đưa tới cửa ngõ Tân Kỳ (Nghệ An) hay Quán Trại (Ðức Thọ-Hà Tĩnh), để vào Quảng Bình và Quảng Trị, rồi từ đó mới xuất tuyến xâm nhập vào Nam. Nhưng đường đi, dù ở trong lãnh thổ Bắc Việt, vẫn vô cùng nguy hiểm, vì bị phi cơ Hoa Kỳ oanh tạc hằng ngày, nhất là tại thung lũng tử thần Ðồng Lộc. Ở đây, đường chạy giữa hai rặng núi cao, bên này là Rú Mòi, còn phía kia mang tên Sọ Voi. Ðây chính là cửa ngõ đầu tiên, của đường mòn HCM, nối liền bắc VN tới lãnh thổ Lào. Từ đó đường mòn mang tên Trường Sơn Tây, tiếp tục tới Khâm Muôn (Lào), thì gặp Ðường 20 Quyết Thắng, từ Phọng Nhạ (Quảng Bình) sang. Khúc đường này dài hơn 127 km, chạy len lỏi giữa khu rừng già Kẽ Bàng và miền hoang địa Bulapha của Lào.

            Theo báo Aux Ecoutes du Monte, thì hải cảng Vinh (Nghệ An), là yết hầu của đường mòn HCM, vì gần như mọi thứ đều xuất phát ở đây, để xâm nhập vào Nam. Cũng từ đây, đường được phân làm ba nhánh qua Lào, để tránh thiệt hại vì sự oanh tạc của máy bay Mỹ. Riêng tổng hành dinh của Ðoàn 559A, thì đóng rải rác trong khu tam giác các thị trấn Napé, Kamkeut, Kanmon.. nằm dọc theo con sông Nam Pao của Lào. Ðây là một quân chủng đặc biệt của cọng sản Bắc Việt, gồm công binh, vận tải, trách nhiệm bảo trì, sửa chữa con đường, đồng thời phân phối quản trị đoàn dân công, xe tải chuyển vận bộ đội, vũ khí, tiếp liệu từ bắc vào chiến trường miền Nam.

            Tại ngã ba Khâm Muôn, giao điểm của hai nhánh Quyết Thắng 20 và Tân Kỳ, đường mòn HCM, đi vào khu rừng già Hạ Lào, cặp kè với con sông Nam Cà Dinh, chạy tới đỉnh dốc đứng 1001 trên núi Răng Cọp. Từ đây đường mòn đổi tên thành Trường Sơn, sau khi vượt qua vĩ tuyến 17, để tới thị trấn Tchepone (Muang Xepon) nằm trên quốc lộ 9. Ðây cũng là phân nhánh đầu tiên của đường mòn Trường Sơn, xâm nhập lãnh thổ VNCH, để tấn công các căn cứ quân sự Lao Bảo, Khe Sanh, Làng Vei, Cà Lu.. trong tỉnh Quảng Trị. Sau đó, đường mòn vẫn tiếp tục chạy trên đất Lào tới núi Ấp Bia (937m), một địa danh nổi tiếng, trong cuộc chiến Ðông Dương lần thứ hai (1960-1975), được một ký giả ngoại quốc, chứng kiến tận mắt cảnh hàng ngàn xác bộ đội Bắc Việt, bị banh thây bỏ lại tại chiến trường, vì bom đạn phi pháo, nên đã đặt là Hambuger Hill. Tại đây, đường lại được phân nhánh tới các thung lũng A Lưới, Tà Bạt và A Shau. Ðây là bàn đạp mà Hà Nội tập trung bộ đội, để tấn công Thừa Thiên và Ðà Nẵng. Sau khi vượt qua cao nguyên Boloven gần ngã ba biên giới Việt-Lào-Miên, đường mòn lại phân thành hai nhánh khác chạy vào lãnh thổ VNCH, một nhánh phát xuất từ Savarane tới Dakto, Tân Cảnh, Kontum.. trước khi ngang qua các trại Lực Lượng Ðặc Biệt Benhet, Dakto.. Nhánh khác từ Attopeu vào Pleiku, ngang qua Trại LLÐB Ðức Cơ, Pleime. Nằm giữa hai nhánh rẽ này vẫn trên đất Lào, là mật khu 609 của Bắc Việt. Kể từ đây, đường mòn Trường Sơn đổi thành đường mòn Sihanouk, với nhiều mật khu như 702, 701, 740, 203, 351, 350 và 400. Trên đất Miên, đường mòn có một nhánh rẽ vào Phước Long và phần cuối cùng chạy xuống tận hải cảng Kampong Som (Sihanouk Ville) của Miên. Chính tại đây, Bắc Việt nhận trực tiếp hàng hóa viện trợ của Nga,  Tàu và Ðông Âu, tới năm 1970 mới chấm dứt, khi Sihanouk bị Lonnol lật đổ. Nhờ đó Hoa Kỳ và QLVNCH mới được phép hành quân sang đất Miên theo lời yêu cầu của chính phủ mới, nên mới tiêu diệt gần như tất cả các mật khu của Bắc Việt tại đây, qua các cuộc hành quân Toàn Thắng và Cửu Long.

            Tóm lại suốt cuộc chiến Ðông Dương lần thứ hai, ngoài số nạn nhân chết bởi bom đạn, giao tranh, phần lớn bộ đội, cán binh cọng sản miền bắc, được ghi nhận là ngã gục trên đường Trường Sơn, vì trăm ngàn nỗi gian lao cực nhọc và bệnh tật, đó là chưa kể tới chết khi đụng trận, bị bom đạn oanh tạc, mìn bẫy. Hàng vạn nấm mồ hoang lạnh, được vùi lấp vội vàng, trên con đường dài heo hút, chỉ một thời gian ngắn, đã biến thành phân mục, bón xanh thêm cây lá rừng hoang, như Trần Xuân Lợi, một bộ đội vượt tuyến đã viết :

“ Những hồi mưa ngớt
Tựa nghĩ gốc cây
Nhìn rừng không nói
Nhìn mây chẳng thấy
Chỉ có núi đèo
Kế nhau nối tiếp
Oại là khủng khiếp
Cho cảnh Trường Sơn ..”

Hay : “Rải rác biên cương mồ viễn xứ, chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh, áo bào thay chiếu anh về đất, sông núi gầm vang khúc độc hành. Quang Dũng “.Tất cả là sự thật, mà Ðại Tá Võ Ðại Tôn, tức nhà thơ Hoàng Phong Linh, trong cuộc Ðông Tiến bất thành, khi trở về VN để giải phóng quê hương sau năm 1975, đã ghi lại :

“ Ðỉnh núi cao mây vờn,
đá nghìn năm quên tuổi
ta lạc loài như dã thú không tên
qua Tchépone, Boloven
về Hạ Lào thăm thẳm
Atopeu đường xa muôn dặm
Rừng tây nguyên heo hút trong tim ..”

            Con đường có rất nhiều đoạn dài, xuyên giữa rừng già bất tận, phi cơ quan sát hay không ảnh cũng bó tay, ngoại trừ sự xâm nhập của các Toán Biệt Kích, thuộc binh chủng LLDB/VNCH.

            Ðể bảo vệ con đường chiến lược này, Bắc Việt thành lập Ðoàn 559A, gồm nhiều binh trạm, mỗi nơi có quân số tương đượng một trung đoàn tác chiến. Giữa hai khu vực, có các toán giao liên và các kho dã chiến. Vùng nào lo vùng nấy, không ai biết gì tới các khu vực lân cận. Tóm lại, Ðoàn 559A chỉ có trách nhiệm từ vĩ tuyến 17 đổ vào nam mà thôi. Riêng phía bên này vĩ tuyển ra tới Bắc Việt, bổn phận tái tạo và giữ tốt, các tuyến đường giao thông, tiếp vận cho chiến trường, được giao cho hàng vạn thanh niên nam nữ, trong ba tổng đội Thanh Niên Xung Phong. Do trên đã có không biết bao nhiêu người tuổi trẻ, phải gục chết giữa bom đạn, khi bị bắt buộc bám trụ tại chỗ, để mỗi lần phi cơ Mỹ oanh tạc vừa dứt, thì họ với sức người và cuốc xẻng, ào ra chiến trường, để lấp hố bom trên mặt đường vừa bị cầy nát. Bởi thế giao thông không bao giờ bị gián đoạn.


B - CÁN BINH, BỘ ÐỘI BẮC VIỆT TRÊN ÐƯỜNG MÒN HCM :
  
            Với mục đích lường gạt dư luận thế giới, đánh lận con đen, chối bỏ việc trắng trợn xâm lăng VNCH, nên cọng sản Bắc Việt lúc nào cũng tổ chức cuộc chuyển quân vào Nam, thật bí mật. Thêm vào đó là sự phụ họa rất ăn khớp nhịp nhàng của một số báo chí theo VC tại miền Nam, nên Hà Nội gần như đâm mù cả nhân loại, khiến ai cũng tin là cuộc chiến tại miền nam, là do chính người miền nam vì bất mãn chính phủ độc tài tàn bạo, nên nổi loạn chống phá, chứ miền bắc không hề can dự. Thời gian đầu cuộc chiến, việc chuyển quân từ bắc vào nam, thật vô cùng khó khăn nguy hiểm. Vì thế chỉ có bộ binh vượt tuyến mà thôi. Còn vũ khí quân dụng, được chuyển vận bằng ghe thuyền tại tuyến đường 559B trên Ðông Hải, do Ðồng văn Cống phụ trách. Trước tết Mậu Thân 1968, bộ đội Bắc Việt vào Nam, được bồi dưỡng và huấn luyện trong thời gian 8 tháng, với tiêu chuẩn 2 đồng 40 xu tiền Hồ/1 ngày. Trước khi lên đường “sanh bắc tử nam”, các cán binh bộ đội được cấp 5 ngày phép về thăm gia đình. Vì chủ nghĩa xã hội miền bắc rất công bình, con trốn quân dịch, cha mẹ dù có già 100 tuổi vẫn phải đi thế, ngoài ra tất cả tem phiếu, sổ gia đình đều bị tịch thu. Nên trong một xứ mà tất cả nhu yếu phẩm đều phải bó buộc mua tại cửa hàng quốc doanh, chợ nhà nước, thì đâu có ai dám không đi lính, để vừa khổ thân lại làm liên lụy cho gia đình. Ở Bắc Việt, cũng không có chùa, nhà thờ và trường đại học, nên cũng không có chế độ hoãn dịch vì tu xuất hay học hành. Còn du học hay xuất ngoại , thì chỉ dành ưu tiên cho con cái và gia đình cán bự cỡ tổng bộ trưởng và hàng trung ưởng đảng, nên sau khi hết phép, ai nấy đều trở lại để lên đường vào Nam theo lệnh đảng.

            Trên đường tiến quân còn trong lãnh thổ Bắc Việt, các đơn vị chính quy hành quân, vẫn sử dụng quân phục cố hữu bằng vải kaki Nam Ðịnh, với mũ bầu có bọc vải dầu, màu xanh lá cây. Quân xa sẽ chở bộ đội tới Lào, qua một trong ba tuyến đường chiến lược, nối liền hai nhánh Trường Sơn Ðông và Tây, tại Ðồng Lộc (Hà Tĩnh), Phong Nhạ (Quảng Bình) và Vĩnh Linh (Quảng Trị), để tới biên giới VNCH. Tại đây, bộ đội cọng sản Bắc Việt, sẽ lột xác hoàn toàn thành người “Giải Phóng Quân” trong MTGPMN của Anh Thọ, chị Bình, chị Ðịnh, Bến Tre lập ra. Tóm lại tất cả những gì có liên hệ tới cọng sản miền Bắc, đều phải hoàn trả hết cho cán bộ chính trị đơn vị. Từ đây bộ đội chính quy miền bắc là giải phóng quân miền nam, dù cả hai đều là đảng ta đó, nên phải mặc đồ bà ba đen, khăn rằn quàng cổ, mang dép râu, đội mũ tai bèo, y chang như VC tại Nam phần đã sắm tuồng từ năm 1960. Cả tới cờ hiệu, cũng phải dùng cờ MTGPMN, nửa xanh nửa đỏ giữa có sao vàng. Còn bài hát thì đã có bản “ Giải phóng miền nam “ của Nguyễn Minh Siêng tức Lưu Hữu Phước.

            Trước khi hiệp định Ba Lê 1973 ký kết, nhằm hợp thức hóa cũng như cho phép bộ đội chính quy Bắc Việt, được công khai đóng ngay trên lãnh thổ VNCH, thì sự di chuyển trên đường mòn HCM rất khó khăn nguy hiểm, kể cả các tuyến giao thông chiến lược, nối Bắc Việt với nhánh Trường Sơn Tây, nằm trong lãnh thổ Trung Lào, vì phi cơ Hoa Kỳ oanh tạc ngày đêm liên tục. Nên chỉ riêng đoạn đường, từ điểm xuất phát đầu tiên tại Tân Kỳ (Nghệ An), tới thị trấn Tchepone (Hạ Lào), cũng phải mất từ 2 - 3 tháng. Sau đó các đơn vị bộ đội chính quy miền bắc, được các toán giao liên hướng dẫn vượt tuyến và xâm nhập các trục vào lãnh thổ VNCH để hoạt động, tuỳ theo nhiệm vụ được đảng giao phó. Sau tháng 2-1973, không quân Hoa Kỳ chính thức rút khỏi cuộc chiến, còn VNCH thì không đủ phương tiện để ngăn chận, nên Bắc Việt gần như công khai hoạt động, không cần che đậy để lừa bịp dư luận như trước. Do trên, con đường mòn được tu bổ thành một xa lộ đất. Dọc đường, thiết lập nhiều khu dưỡng quân, bệnh xá, kho tiếp liệu. Song song là một hệ thống ống dẫn dầu, xăng cùng một đường dây điện thoại cao thế, do Liên Số và các nước Ðông Âu cung cấp viện trợ, bơm dầu từ các tàu nhiên liệu cập bến ở Nghệ An. Tại các mật khu cũng như địa điểm trọng yếu, Bắc Việt cho bố trí một mạng lưới phòng không dầy đặc, với đủ loại súng đại bác do Nga Sô, Ðông Ðức viện trợ như súng cao xạ, hỏa tiễn loại 35 và 57 ly. Từ năm 1965 tới 1967, ước chừng 7000 bộ đội chính quy xâm nhập miền Nam hằng tháng. Trong đợt tổng công kích Tết Mậu Thân 1968, quân số cọng sản Bắc Việt, có mặt tại lãnh thổ VNCH hơn 100.000 người. Ðể chuyên chở người, quân dụng và vũ khí vào Nam trên đường mòn Trường Sơn, Hà Nội đã huy động một số quân xa, từ 1250 -1700 chiếc. Những quân xa này đều do TRung Cộng, Liên Xô viện trợ, gồm các hiệu Zills, Molotova.. loại 130 bốn bánh và 157 sáu bánh, có trọng tải từ 4-6 tấn. Ngoài ra có một đoàn dân công khổng lồ, thi hành theo cái gọi là “nghĩa vụ lao động, từ 16-55 tuổi”, không phân biệt nam nữ, để giữ hộ khẩu và được sống yên trong chế độ công an khu vực. Hàng hóa phần lớn được chuyển vận vào Nam bằng sức người, xe đạp và voi.

            Sau tháng 5-1975 chiến tranh chấm dứt, có rất nhiều bí mật được bật mí, phần lớn nhằm làm sáng tỏ lý do thất bại của Quân Lực Ðồng Minh, Hoa Kỳ và VNCH trong cuộc chiến Ðông Dương, mà nỗ lực chính là ngăn chận và phá vỡ hệ thống đường mòn Trường Sơn, hành lang chính để cán binh bộ đội cọng sản Bắc Việt, xâm lăng Miền Nam. Ðồng thời phơi bày ra ánh sáng, thảm trạng “Mạng người lá rụng” vì đường đi không tới, của hằng trăm ngàn người “sinh bắc tử nam”. Tất cả nạn nhân chiến tranh trên, chẳng có ai vì nhiệt tình cách mạng, ngu để phải chết thảm thê vì đụng độ, máy bay oanh tạc, hải pháo và bệnh tật không có thuốc men chữa trị. Và dù phía VNCH không đạt được chiến thắng cuối cùng nhưng rõ ràng Họ đã tiêu diệt và phá vỡ gần hết những mật khu quan trọng của Bắc Việt, trên đường mòn Trường Sơn, như 604 tại yết hầu Tchépone-Hạ Lào và 611 trong thung lũng Ashau, gồm nhiều binh trạm, hậu cần, ống dẫn dầu cùng các tổng kho tiếp tế. Tác giả Lane Rogers cũng là Ðại Tá Thủy Quân Lục Chiến Hoa Kỳ, từng tham dự nhiều trận chiến trên đường mòn, đã viết: “Ðể bảo vệ và hoạt động được liên tục trên hành lang chuyển quân, Bắc Bộ Phủ đã thí quân một cách vô nhân đạo. Ðó là lý do nhiều lần con đường chính và năm nhánh rẽ vào Nam VN, tưởng như đã bị phá vỡ hoàn toàn. Nhưng rồi đoàn kiến người cũng tìm đủ mọi ngõ ngách khác để xâm lăng miền Nam. Riêng Thống Tướng Westmoreland, cựu Tư Lệnh Quân Lực Hoa Kỳ và Ðồng Minh, chiến đấu tại VN, thì giải thích lý do thất bại của Mỹ, trong nỗ lực hủy diệt con đường này, phần lớn do trở ngại thiên nhiên, là chốn ma thiêng nước độc, gây sự sợ hãi chết chóc nhiều nhất trên thế giới.

3 - Máu Ðẫm Trường Sơn (1960-1975) :

            Hai mươi năm chiến cuộc VN, đã cướp mất đi hằng triệu thanh niên nam nữ hai miền đất nước, cũng như đồng bào vô tội. Sự tủi nhục và đau lòng nhất, riêng chỉ có kẻ trong cuộc và dân chúng xã nghĩa Bắc Việt mới hiểu thấu. Riêng người miền Nam sống tại các đô thị lớn như Sài Gòn, Huế, Cần Thơ.. gần hết chỉ hiểu một cách đại khái, mù mờ, qua tài liệu, báo chí và sự tuyên truyền của cả hai phía. Họ đâu có bao giờ biết rằng, trong suốt cuộc chiến, Bắc Việt, Hoa Kỳ và QLVNCH, đã dành giựt từng thước đất trên đỉnh Trường Sơn, vì một bên thì quyết lòng dùng máu xương người để xây huyết lộ, còn phía bên kia cũng lấy mạng sống, bom để phá hủy cho tận tuyệt. Nói chung cả hai phía đều sử dụng tối đa mạng sống con người Việt, qua các khẩu hiệu hào nhoáng nhưng mặt thật, cũng chỉ để phục vụ cho quyền lợi riêng tư của họ mà thôi.
           
A- VỀ PHIÁ CỌNG SẢN BẮC VIỆT :

            Sau khi Thủ Tướng Liên Xô Nikita Khrowshchev, phát pháo mở màn cuộc chiến giải phóng toàn cầu vào ngày 6-1-1961, cũng là thời gian khởi đầu cho tới ngày 30-4-1975, Bắc Việt xâm lăng cưỡng chiếm VNCH. Ngoại trừ các chóp bu ngồi tại Bắc Bộ Phủ, không ai có thể biết rõ, đã có bao nhiêu cán binh, dân công và thanh niên xung phong đã bị thương vong vì cuộc chiến. Phần thì cọng sản quen bưng bít sự thật, hơn nữa trong chủ nghĩa thiên đàng, không có chế độ thương binh ngoài mặt trận. Nên tất cả những điều Ðảng tuyên bố, gần như là tuyên truyền láo bịp, nên sự thật đâu biết sao mà mò ? Nhưng chắc chắn có điều, gần hết các trận đánh khốc liệt, đều xảy ra trên hành lang chiến lược Trường Sơn, từ sự hủy diệt bằng bom mìn, hàng rào điện tử, chiến tranh khí tượng, thuốc khai quang, không quân cho tới những đụng độ trực tiếp giữa Bắc Việt với Hoa Kỳ và VNCH, mà cao điểm là cuộc hành quân Lam Sơn 719, tại Hạ Lào-1971.

            Trên lãnh thổ Bắc Việt, trực diện với bom đạn hằng ngày, là những nam nữ thanh niên, trong các Tổng Ðội Thanh Niên Xung Phong. Nhiều người đã bị chết một cách oan khiên tức tưởi, tại ngã ba Ðồng Lộc (Hà Tĩnh), Ðường 20 Quyết Thắng (Quảng Bình), Hưng Hóa (Quảng Trị ). khi bị bắt buộc thi hành các công tác hiểm nguy như giao liên đơn độc giữa rừng núi muôn trùng, làm mốc hướng dẫn đoàn xe đến các địa điểm tránh bom Mỹ.. Trong muôn ngàn thảm kịch, được đưa lên phim quảng cáo, vẫn thảm nhất là cái chết của 10 cô gái TNXP, thuộc Tiểu Ðội 4/Tổng Ðội 53, Hà Tĩnh, bị bom đánh sập, chôn sống tập thể tại Ngã Ba Ðồng Lộc, vào sáng ngày 24-7-1968. Hoặc chuyện bốn cặp TNXP và công binh, cũng bị chết ngạt trong một cái hang núi tại Kẽ Bàng (Quảng Bình).. Nhưng đây cũng chỉ là một trong hằng triệu cái chết vô danh của phận người xấu số trong chiến tranh, nếu đem so sánh với những cái chết khác tại các tuyến đường rẽ vào lãnh thổ VNCH.

            Không kể đến sự đụng độ thường xuyên giữa các Toán Biệt Kích Quân cảm tử, thuộc Binh chủng LLDB/VNCH và cán binh Bắc Việt, trên mọi ngõ ngách của đường mòn Trường Sơn, ngay cả trong lãnh thổ Bắc Việt. Kể từ năm 1965 tới khi có Hiệp định Ba Lê 1973, đã có không biết bao nhiêu trận đánh lớn giữa cọng sản miền bắc và quân lực Ðồng Minh, Hoa Kỳ cũng như QLVNCH. Ðiển hình như các trận PLEIME - 1965, giữa Toán A217 biệt kích Mỹ-Việt, TÐ91BCD/LLDB, TD1/TrD45/SD23BB, TD21+22/BDQ, Chi Ðoàn 3 Thiết kỵ/VNCH với 3 Trung Ðoàn 32, 33, 66 cọng sản Bắc Việt. Ngày 27-10-1965, SD1kỵ binh không vận Hoa Kỳ, hành quân tại thung lũng IA-DRANG, Pleiku, bẻ gãy âm mưu tập trung của 3 SD Bắc Việt, nhằm chia cắt VNCH thành hai mảnh. Tháng 12-1965, Bắc Việt lại tấn công 2 Trại LLDB. Tà Bạt, A Lưới (Thừa Thiên), một trận đụng độ đẵm máu giữa Việt cọng và Mỹ+VNCH tại căn cừ Ashau, một tiền đồn ngăn chận cán binh Hà Nội, tràn xuống miền duyên hải.

            Mùa thu năm 1967,  Bắc Việt tấn công đồng loạt nhiều tiền đồn VNCH trên đường rẽ vào Chiến khu C (Phước-Bình Long) cũng như Kontum, vì 2 khu vực này là cửa ngõ chiến lược quan trọng nhất trên hành lang xâm lăng VNCH của cọng sản Bắc Việt. Ðể giải tỏa áp lực tại Tiền đồn Dakto, 16 tiểu đoàn thuộc SD4BB +SD. Dù/Hoa Kỳ và Lực lượng Nhảy Dù VN, đã ác chiến với 1 SD. Bắc Việt, thương vong hai phía rất nặng.

            Trên QL9 từ Hạ Lào vào Quảng Trị, có Tiền Ðồn Khe Sanh là căn cứ của Biệt kích quân VNCH, thành lập từ tháng 7-1962. Ðây cũng là điểm xuất phát các Phi Vụ Tiger Hound rải quân xâm nhập đường mòn HCM. Như các căn cứ Cồn Tiên, Gio Linh, Caroll, Cam Lộ.. Khe Sanh là các tiền đồn, đối diện với vùng biên giới phía bắc khu phi quân sự vỹ tuyến 17 lãnh thổ Bắc Việt. Bởi vậy cọng sản luôn tìm mọi cách tiêu diệt cái gai nhọn Khe Sanh, đâm vào yết hầu đường mòn Trường Sơn. Cuối năm 1967, trước khi mở màn cuộc tấn công đẫm máu Tết Mậu Thân 1968, Võ Nguyên Giáp đã mở một mặt trận Ðiện Biên Phủ thứ 2 tại thung lũng Khe Sanh, với ý muốn dụ quân Mỹ vào rọ để tiêu diệt như đã từng xảy ra vào năm 1954 trên đất bắc. Nhưng Giáp đã tính toán sai, vì Hoa Kỳ mạnh hơn Pháp cả 100 lần, lại có một lực lượng hải pháo không quân hùng hậu, nên cuối cùng Bắc Việt phải chém vè về Hạ Lào, bỏ lại tại Khe Sanh hơn 20.000 xác bộ đội, tỷ lệ 90% quân số tham dự trận chiến. Cũng tại đây, ngoài quân Mỹ, còn có một đơn vị VNCH duy nhất được tăng phái, đó là TD37 Biệt Ðộng Quân. Ðơn vị này dù quân số ít ỏi, lại bị nằm tiền đồn nhưng suốt thời gian chiến cuộc, đã giữ vững được phòng tuyến phía nam của căn cứ Khe Sanh, qua nhiều đợt tấn công biển người của SD304 Bắc Việt.

            Trong cuộc tổn công kích Tết Mậu Thân 1968, cọng sản thất bại hoàn toàn trên chiến trường, nên hầu hết tàn binh đều rút về phía bên kia biên giới Việt-Miên-Lào, trên đường mòn Trường Sơn. Phía VNCH và Hoa Kỳ đã mở nhiều cuộc hành quân truy quét. Tại Vùng 1 chiến thuật, ngày 16-4-1968 SD1kỵ binh Mỹ + TrD3/SD1BB/VN hành quân Lam Sơn 216-Dela Ware tảo thanh vùng A Lưới. Kế tiếp hành quân Somerset Plain Lam Sơn 246 của SD101Dù Mỹ + TrD1/SD1BB/VN tại vùng A Lưới, Tà Bạt và mật khu 609. Ðầu năm 1969, SD101Dù + TrÐ9/TQLC/HK + TrD3/SD1BB/VN tảo thanh thung lũng A Shau. Vùng này có một ngọn núi cao trên 1000m, nằm ngay biên giới Lào-Việt, như một bình phong án ngữ các căn cứ A Lưới, Tà Bạt, A Sha. Một trận đụng độ kinh khiếp đã xảy ra tại đây giữa hai phía. Cùng tham chiến, không quân, pháo binh và các pháo đài bay B52, đã giội xuống chiến trường hơn một triệu cân Anh bom các loại, trong số này có 152.000 cân Anh bom lửa, khiến cho đồi núi, cỏ cây, rừng xanh và xác cán binh bộ đội cọng sản Bắc Việt bỏ lại khi chém vè, đều biến thành tro bụi. Cảm thương cho số phận con người vì tem phiếu, hộ khẩu, mà phải sinh bắc tử nam, nên một ký giả Mỹ có mặt tại trận địa, viết bài trên báo, đã ví von đặt tên núi Ấp Bia là Hamburger Hill. Sau này, báo chí VC hãnh diện tuyên truyền với thế giới, vì Mỹ chết nhiều quá, nên mới có cái tên ngộ nghĩnh trên.

            Nhưng một biến cố cực kỳ quan trọng trên, gần như làm đảo lộn chiến lược xâm lăng miền nam của Bắc Việt, cũng như chiến thắng gần kề của VNCH, nếu như Nixon-Kissinger không bán đứng Miền Nam cho Bắc Việt, qua cái gọi là Hiệp định Ba Lê 1973. Ðó là cuộc chính biến trên đất Miên vào năm 1970. Ai cũng biết Kampuchia từ năm 1960, là hậu cứ an toàn của cọng sản Bắc Việt, để nhận trực tiếp hàng hóa quân dụng viện trợ của các nước XHCN, tại hải cảng Sihanouk Ville nằm trong vịnh Thái Lan. Ðây cũng là tổng hành dinh của Cục R, đầu não chỉ huy của đảng bộ cọng sản miền nam, qua ngụy danh MTGPMN. Ngày 18-3-1970, Lonnol lật đổ Sihanouk và theo Mỹ. Quân Miên cũng được lệnh tấn công các mật khu của Bắc Việt trên đất Miên. Chiến tranh đã nổ toàn diện trên đất chùa Tháp. Liên quân Khmer Ðỏ của Polpot và VC phản công và bao vây thủ đô Nam Vang, đồng thời người Miên qua sự xúi ngầm của tân chính phủ Lonnol, đã đồng loạt “CÁP DUỒNG” Việt Kiều khắp nơi, gây thảm trạng thương đau cho hằng vạn người dân vô tội, bị vạ lây do Bắc Việt gây ra từ mấy năm trước.

            Ðể cưú đồng bào về nước, đồng thời mượn dịp thanh toán các căn cứ địa và cục R tại biên giới Việt-Miên, theo yêu cầu của Lonnol. Do trên, QLVNCH đã tổ chức các cuộc hành quân rất qui mô, mang tên Toàn Thắng 41, 42, 43 do QD3 đảm trách. Song song QD2 cũng hành quân Bình Tây và QD4 có hành quân Cửu Long. Trừ cuộc hành quân Toàn Thắng 43, do lực lượng hỗn hợp Việt-Mỹ, gồm SD1 Không vận Hoa Kỳ + Lữ Ðoàn 3 Nhảy Dù và Thiết Ðoàn 2 kỵ binh/VN. Tất cả các cuộc hành quân khác, đều đo QLVNCH đảm trách, đã giúp Lonnol chiếm lại thủ đô Nam Vang, hải cảng Sihanouk Ville, đồng thời phá vỡ gần như toàn diện các mật khu của VC, trong đó có Trung Ương Cục R. Trên biển Ðông, Hải quân Mỹ còn tổ chức cuộc Hành quân Market Timer, để truy đuổi các tàu thuyền của Bắc Việt, trong việc chuyển vận quân trang quân dụng vào Nam, bằng tuyến đường biển 559B.

            Ðể cứu sống đoàn quân xâm lăng đông đảo, đang có mặt ở miền nam, trong lúc các căn cứ tiếp vận tại Miên vừa bị phá hủy, nên cọng sản Bắc Việt đã gia tăng quân lực, bằng mọi giá giữ vững cho được Huyết lộ HCM trên đất Lào, mà trọng điểm là Thị trấn hoang tàn Tchépone. Ðây cũng lý do mà QLVNCH đã mở cuộc Hành quân Lam Sơn 719 tại Hạ Lào năm 1971, một trận chiếm đẫm máu nhất trong Ðông Dương thế chiến 2 (1960-1975). Phía VNCH có 17.000 quân tham dự, gồm các SD Nhảy Dù, SD TQLC, SD1BB, Liên Ðoàn 1BDQ và Lữ Ðoàn 1 Thiết Giáp. Về phía cọng sản Bắc Việt có Quân Ðoàn 70B, các SD2, 304,308, SD phòng không.. Quân Mỹ chỉ đóng bên kia biên giới, yểm trợ không vận, hải pháo, pháo binh.. Cuộc hành quân kết thúc ngày 25-4-1971 sau khi Trung Ðoàn2/SD1BB/VNCH tiến vào thị trấn Tchépone. Dù bị thiệt hại rất nặng nhưng QLVNCH đã phần nào đạt được mục tiêu chiến lược, là phá hủy hoàn toàn nhiều căn cứ tiếp liệu của Bắc Việt, tại mật khu 609 và 611 trên đường mòn HCM.

B- VỀ PHÍA VNCH :

            Trong suốt cuộc chiến, hầu như tất cả mọi binh chủng của QLVNCH đều có mặt tại đường mòn Trường Sơn, kể cả Cảnh Sát Dã Chiến, Xây Dựng Nông thôn, DPQ+NQ.. Tuy nhiên đã có một Binh Chủng Ðặc Biệt, từ ngày thành lâp vào năm 1957, tới khi rã ngũ tan hàng, đã đơn độc hoạt động âm thầm trong lòng địch , trên suốt đường mòn HCM từ đông sang tây, ngay cả trong lãnh thổ của Miên và Lào. Họ là những chiến sĩ “BIỆT KÍCH-BIỆT CÁCH”, không có sự yểm trợ nào của đơn vị bạn và hoàn toàn tự lực cánh sinh để mà sống trong núi rừng, nhiều nơi chưa hề có dấu chân người.

            Binh chủng LLDB có cấp số sư đoàn, bao gồm các đơn vị như Sở liên lạc, Sở công tác, Sở khai thác địa hình, các liên đoàn tác chiến 31, 77, 81 Biệt cách nhảy dù và Trung tâm Huấn luyện LLDB. Ðông Ba Thìn tại Cam Lâm-Khánh Hòa.

            Như Kinh Kha ngày xưa, các chiến sĩ Biệt Kích ra đi ít khi được trở về. Một số ít đã bị bắt tại Bắc Việt và chịu kiếp tội đồ, tới nay nhiều người vẫn còn chưa được thả. Vì họ chính là kẻ thù không đội trời chung và cũng là khắc tinh của cọng sản, trên suốt đường mòn. Tóm lại nơi nào có VC thì nơi đó có LLDB. Hai bên đã trường kỳ đấu trí trong suốt cuộc chiến, qua đủ mọi hình thức. Nhưng vì lý do bảo mật, nên cả hai phía, đều không muốn nhắc tới.

C- VỀ PHÍA HOA KỲ :

            Từ năm 1961, Lào trở thành một quốc gia trung lập, nên chính phủ Mỹ đã bị Quốc Hội, nhất là tên thượng nghị sĩ đảng dân chủ thân cộng William Fullbright và cái gọi là ủy ban ngoại giao, tìm đủ mọi cách ngăn chận cấm đoán quân Mỹ can thiệp vào đất Lào. Trong lúc đó, cọng sản Bắc Việt không hề đếm xỉa tới cái gọi là hiệp định Genève 1961, tự tác mở con đường Tây Trường Sơn ngay trên đất Lào, để làm hành lang chuyển quân và tiếp vận xâm lăng miền nam. Cũng do Quốc Hội trói buộc, nên từ đời TT Kennedy cho tới Johnson, cả hai đều dè dặt trong quyết định dùng vũ lực tiêu diệt, ngăn chận sự xâm nhập của cán binh bộ đội, trên đường mòn HCM

            Vì không thể sử dụng bộ binh, để tránh né khỏi bị công luận thế giới và quốc hội chỉ trích, người Mỹ đã dùng các phương tiện chiến tranh khác như oanh tạc, khai quang và dùng hàng rào điện tử. Ngay cả việc sử dụng không quân để oanh tạc cũng vô cùng bí mật, lúc đầu đều do các phi công thuê của Thái Lan, Ðài Loan đảm trách. Về sau vì Bắc Việt đã được Liên Xô giúp thiết trí một mạng lưới phòng không dày đặc, với đủ các loại đại bác, hỏa tiễn tối tân 35, 57 ly .. làm nhiều thám thính cơ bị bắn hạ. Vì vậy để thích ứng với hoàn cảnh, Hoa Kỳ quyết định xử dụng những phi cơ oanh tạc Thunderchiefs từ Thái Lan, cùng các phi cơ F105, pháo đài bay B52 từ căn cứ Guam, cũng như các Hàng Không Mẫu Hạm bỏ neo trên Thái Bình Dương, để oanh tạc liên tục con đường mòn HCM, trên đất Bắc, Lào-Miên và trong lãnh thổ VNCH. Riêng chủ trương của Tướng Westmoreland, tư lệnh các lực lượng Mỹ và Ðồng Minh tham chiến tại VN, thì luôn muốn dùng bộ binh, để cắt đứt đường mòn HCM ngay trên đất Lào. Nhưng ông đã bị Quốc Hội Mỹ chống đối kịch liệt vì sợ vi phạm hiệp định Geneve 1961. Ngoài ra Mỹ cũng luôn lo sợ va chạm quân sự với Trung Cộng, khi tung quân vào Lào để hủy diệt con đường chiến lược HCM. Ðây cũng là những bí ẩn trong cuộc chiến VN mới được bật mí. Năm 1968 kế hoạch vượt biên đánh sang Lào để hủy diệt đường mòn HCM, mang tên EL-PASO sắp được Quốc Hội Mỹ phê chuẩn, thì xảy ra trận Tết Mậu Thân 1968 nên chiến dịch trên đã bị hủy diệt.
           
            12 giờ trưa ngày 30-4-1975, nhờ Tổng thống Dương văn Minh với quyền hạn của Vị Tổng Tư lệnh tối cao, ra lệnh cho QLVNCH lúc đó đang còn chiến đấu khắp các mặt trận, buông súng đầu hàng giặc. Nhờ vậy mà đoàn xe tăng của Liên Xô, chở quân cọng sản Bắc Việt, mới bon bon chạy được trên đoạn chót của đường mòn HCM, là đại lộ Thống Nhất-Sài Gòn, rồi ủi sập hai cổng sắt để vào dinh Ðộc Lập, trống trơn không có phòng thủ, lính gác.

            Sài Gòn hai mươi năm dưới chế độ VNCH, gần như lúc nào cũng có biểu tình. Thế nhưng trong ngày “vinh quang của đảng-bác”, một cơ hội vàng ròng để người miền nam tha hồ xuống đường hoan hô hòa bình, ăn mừng. Tuy nhiên mọi điều xảy ra lại hoàn toàn trái ngược, chứng tỏ người miền nam không phải ai cũng hồ hởi tin hay thân cộng, như một số báo chí thời đó đã xướng. Theo hằng trăm nhà báo ngoại quốc có mặt hôm đó, trong số này có nhiều người thân cộng, cho biết: “ trưa 30-4-1975, khi quân Bắc Việt vào Sài Gòn, đã không có cảnh người thủ đô hàng hàng lớp lớp, túa ra đường, miệng la cờ phất.. như họ từng làm qua nhiều biến cố trong quá khứ. “Nói chung chỉ có cán bộ đảng và SD304 khăn đỏ tân lập ra chào đón quân ta về, còn dân chúng Sài đô lớp thì chạy trối chết theo chân Mỹ đi ngoại quốc, số khác lo “chôm đồ” .. nên có ai rảnh để mà biểu tình, xuống đường như đảng mong đợi.

            Sau đó Hà Nội cho thu lượm hài cốt cán binh bộ đội đã chết trên đường mòn, tập trung làm nghĩa trang Trường Sơn, tại xã Gio An, quận Gio Linh, tỉnh Quảng Trị. Còn Tỉnh Uỷ Bình-Trị-Thiên thì tổ chức tour du lịch, để du khách trong và ngoài nước tới thăm mấy cái xác xe tăng Mỹ, cây cầu treo Dakrong do công binh Cu Ba làm tặng và đồi Hambuger Hill.. Riêng đường Trường Sơn tây thì bỏ hoang hoàn toàn và mới đây Lào cho phép Trung Cộng trùng tu, nối liền xa lộ Vân-Nam-Bắc Trung Lào mà tương lai con đường này sẽ thông tới hải cảng Kompong Som của Kampuchia, như năm xưa Bắc Việt đã làm.

            Nay ngồi ngẫm nghĩ , mới thấy nhà văn Xuân Vũ viết “Ðường đi tới mà không tới”  là đúng sự thật. Bỗng thương nhớ biết bao cho bạn bè trong QLVNCH, đã ngã gục ;

“trăng chiến khu não nùng sầu vạn kỷ
núi nghìn năm quên tuổi đứng cô đơn
đoàn quân xưa hào khí ngút mây vờn
trời quái ác làm vỡ tan tận tuyệt
.. đây còn có nhiều bạn bè Phan Thiết
đã vùi thây trong rừng lạnh tây nguyên
họ bây giờ là những cánh chim đơn
hót ảo não nơi lũng đèo khe núi..”

Xóm Cồn Hạ Uy Di
Cuối Năm 2013
Mường Giang 

Thứ Tư, 25 tháng 12, 2013

Sự khủng bố của tập đoàn việt gian cộng sản

Việt gian cộng sản khủng bố người tị nạn về Việt Nam


tại phi trường Tân Sơn Nhất 


Kính mời quý vị xem cuộc phỏng vấn Nghệ Sĩ Đính Hùng do Bùi Dương Liêm thực hiện.

Anh Đính Hùng về Việt Nam thăm mẹ bị bệnh nặng. Khi tới phi trường Tân Sơn Nhất, anh bị công an VC giữ lại và sau đó trục xuất anh ra khỏi Việt Nam, mặc dù anh đã được giấy thông hành vào Việt Nam do sứ quán CSVN tại Hoa Thịnh Đốn cấp.

Đây là hành vi khủng bố và lừa đảo của CSVN đối với người Việt tị nạn hải ngoại.




Chủ Nhật, 15 tháng 12, 2013

Sự cai trị của Việt Gian Cộng sản

Những hình ảnh ghi lại:




Niềm hạnh phúc của đồng bào tôi ngày nay, dưới sự cai trị của Việt Gian
Cộng sản !!! 


Hình ảnh cô gái trẻ đang vá săm xe máy trong đêm tối, nhân vật trong ảnh đang là một sinh viên, từ quê lên Đà Nẵng theo học.  Ban ngày cô gái đi học còn tối đến đi vá săm xe máy để kiếm thêm thu nhập...

  
Một cô bé Việt Nam lấm lem bùn đất được chia sẻ trên mạng xã hội : "Mong sao cho đủ bữa ăn chiều". 


"Mưa rơi trên đường vội vã
Dáng mẹ hao gầy tất tả đường trơn
Chiếc áo nâu chỉ rách vai sờn
Lưng mẹ còng nay trùng hơn một chút
Đôi chân trần bao lần ngã hụt
Dành tặng cho con giây phút yên bình".

   
Hình ảnh hai bé vùng cao Việt Nam hiện lên chân thực dưới ống kính của nhiếp ảnh gia người Pháp Réhahn.


"Một mái ấm... cũng chỉ là ước mơ".


"Một cụ già ăn bát mì tôm, ở nơi tránh bão"

  
Những mảnh đời bất hạnh, nhiều người cảm thấy bất lực khi không thể giúp được họ...




Những người phụ nữ này biết cậy vào ai đây ?


 "Nụ cười hạnh phúc" khi được nhận hàng cứu trợ.



"Họ chỉ cần chợp mắt để quên đi cái mệt khoảnh khắc, làm trái tim tôi như thắt lại"


Cho dù cuộc sống có khó khăn thế nào đi chăng nữa thì đôi vai gầy của mẹ vẫn luôn làm việc, mong đem hạnh phúc về cho con.


"Rồi mai này đây, cuộc sống của em sẽ ra sao ?"


"Tuổi nhỏ, nhưng làm việc không nhỏ".

  

"Vì ai mẹ phải mưu sinh
Vì ai mẹ phải dầm mình dưới mưa
Vì ai mẹ nhịn cơm trưa
Vì ai mẹ phải cày bừa sớm hôm".


 "Xao xác đêm đông buồn vắng vẻ
Còn mình mẹ lê bước hè dài
Biết đi đâu khi nhà không có
Tối ngủ đâu cô độc thân già"


"Không cần biết thời tiết nắng gió hay mưa bão, chỉ cần mỗi tối sau giờ tan chợ, người dân ở khu chợ Nguyễn Tri Phương (TP.HCM) lại quen thuộc với hình ảnh một cụ bà dáng gầy gò, nhỏ bé, tóc trắng đầu đi lang thang dọc theo lề đường để nhặt rác của các cửa hàng vứt ra.  Cụ cần mẫn nhặt nhạnh những mẩu giấy vụn, những tấm bìa carton hay thậm chí đó... là những bao đựng rác..."


Thứ Bảy, 8 tháng 6, 2013

Tập Thơ Vô Đề

                  Ai Là Tác Giả Đích Thực Của Tập Thơ Vô Đề
ChuSa

Bài 1.

Trong nhiều năm qua, hàng trăm ngàn độc giả trên khắp thế giới nêu ra nhiều nghi vấn về tập thơ Vô Đề và con người thật của ông Nguyễn Chí Thiện, nên bài viết này của ChuSa tôi dựa trên các câu hỏi đó để giải đáp phần nào những bí mật trong tập thơ Vô Đề một trường thiên bất hủ có một không hai trong lịch sử nước nhà. 

Tác giả viết ra tập thơ Vô Đề chỉ muốn người đời gọi ông là một Thi Sĩ Vô Danh, vì ông đã dâng hiến tất cả cuộc đời ông cho công cuộc chống Cộng và kể hết tội ác của con người Cộng Sản từ Đông sang Tây. 

Thơ của Thi Sĩ Vô Danh đã trở thành bia miệng lịch sử cho nhiều thế kỷ nữa để cho ngàn đời sau hiểu rằng đã có một giai đoạn trong thế kỷ 20, dân tộc Việt đã bị chính những kẻ Nội Xâm, Nội Thù Cộng Sản, du nhập một chủ nghĩa và chính sách cai trị bóc lột nô lệ ngoại lai kinh tởm nhất loài người, gọi là Cộng Sản Mác Xít, Lê Nin Nít, để tàn phá đất nước dân tộc Việt Nam tới mức tang hoang, kiệt quệ, và có thể diệt chủng.

Bài viết này cũng để tìm hiểu về con người “thật” nhưng “Vô Danh Văng Vẳng” của ông và tập thơ Vô Đề sau này được đặt tên là “Bản Chúc Thư Của Một Người Việt Nam”, “Tiếng Vọng Từ Đáy Vực”,hay “Hoa Địa Ngục I ”. 

Vậy tác giả Vô Danh là ai? Nghi vấn về tác giả Vô Danh và tập thơ Vô Đề (Hoa Địa Ngục I). Ai tạo dựng lên chuyện ông Nguyễn Chí Thiện là tác giả tập thơ Vô Đề từ năm 1980? Phân tích và so sánh sự khác biệt giữa 2 tập thơ để tìm “thi sĩ thật” và thi sĩ giả!. 

Trong đống bùn đen nhầy nhụa, Đồng Lầy Cộng Sản, một đóa Hoa Sen nẩy sinh!. Một người, ta gọi là Vô, đã sinh ra và lớn lên giữa quê hương miền Bắc, nhìn thấy nỗi bi thương của đất nước bị chế độ Cộng Sản đọa đày, với một ý chí mãnh liệt là phải làm sao phanh phui, tố cáo, tố giác tội ác của bọn “quỷ sứ” lưu manh, tàn bạo tàn ác, tự nhận là “Cộng Sản”, đã làm cho cả nước Việt đã trở thành một trại tù cung cấp lao động nô lệ, toàn dân Việt đã trở thành tù nô lệ của chế độ Cộng Sản. 

Mọi người, từ trẻ con trong nằm bụng mẹ cho đến người già đều bị chúng bắt ở tù trong, tù ngoài, tù đủ cách, đủ kiểu, bị một bọn quỷ sứ mặt người dạ thú Cộng Sản hành hạ cũng đủ cách đủ kiểu, làm cho toàn thể dân tộc sống dở, chết dở, có thể đi đến tiêu diệt, suy tàn.

Thi Sĩ Vô Danh đã kín đáo làm nhiều bài thơ “trong ngục tù” trong cảnh ngộ khủng khiếp, kinh hoàng của người dân Việt miền Bắc mà ông gọi đó là “những người tù”. 

Thi Sĩ Vô Danh đã ôm hoài bão là có một ngày nào đó ông có dịp sẽ phổ biến những bài thơ kể tội ác Cộng Sản với thê giới bên ngoài. 

Nhiều năm tháng sống trong lòng chế độ Cộng Sản nhìn thấy chung quanh ông, chỉ toàn tù đầy chết chóc với bao nhiêu nỗi cơ cực cơ hàn của người dân miền Bắc, tù đày, với bệnh tật, hàng ngày chỉ thấy toàn là tù bệnh chung quanh ông, cho nên thể xác của ông cũng muốn tàn lụi dần trong sự tuyệt vọng, chán chường, nhưng với một ý chí sắt đá rằng: ông phải sống để làm cái gì cho đất nước và để cứu dân tộc, thoát khỏi gông cùm Cộng Sản. 

Vào một ngày cuối tháng 6 năm 1979 tập thơ Vô Đề đã được bắn ra hải ngoại như một tiêu lệnh của tác giả Vô Danh, tập thơ Vô Đề đã trở thành bất hủ và bất tử. 

Tác giả Vô Danh đã, do ý muốn của ông là “phổ biến tập Thơ” cho thế giới, cho nhân loại và cho hậu thế, mà không bao giờ nghĩ đến cá nhân được vinh danh hay nổi danh. 

Chủ đích của tác giả là chỉ đặt tựa đề cho bài thơ trường thiên “Đồng Lầy”, còn những bài khác đều không có đặt tên. Nhận xét về tình huống của thi sĩ Vô Danh, người viết nghĩ rằng ông hiện đang sống kín đáo ở một nơi nào đó từ ngày tập thơ Vô Đề được xuất bản tại hải ngoại. 

Bài viết này cần phải có để “minh oan” cho ông. Để trả lại tác quyền cho ông, và ước mong ông tỏ lộ tông tích, để chúng ta có thể vinh danh ông trước lịch sử, trước dân tộc, trước Văn Học Quốc Gia và Thế Giới.

Những dữ kiện liên quan đến quá khứ và cá nhân của ông Nguyễn Chí Thiện quá rõ rệt về sự che dấu chức vụ quyền hành của ông trong Ðảng Cộng Sản, và mục đích ông Thiện sử dụng tập thơ Vô Ðề như một lá chắn chứng tỏ ông Thiện là nguời Quốc Gia để hoạt động cho Cộng Sản ở Hoa Kỳ. 

Có thể ông Nguyễn Chí Thiện, các bạn hữu của ông xếp đặt vai trò của hai ông Trần Nhu, Minh Thi làm nhân chứng “đúng và thật” nếu âm mưu này bị phanh phui ra. Do đó Trần Nhu và ông Minh Thi nói rằng ông Nguyễn Chí Thiện là “thật” không phải giả. Phải chăng vì đây là một màn kịch Quốc gia và Quốc tế ( vận động giải Nobel) nên cần phải “tạo ra nhân chứng” để che đậy “ cái giả” hay biến “cái giả thành thật”?. 

Cán bộ Cộng Sản lừa lọc bất cứ ai, lừa lọc toàn thể dân tộc để bảo vệ đảng tồn tại lâu dài. Chúng có đủ phương tiện báo chí, tiền bạc, và mưu kế lường gạt, bịp bợm, lưu manh nhất để đánh lừa người Việt, nhất là người Việt hải ngoại. Tiếp tay cho bọn cán bộ Cộng Sản trung kiên này gồm có các tổ chức chính trị, liên minh kháng chiến ma mãnh, và lũ chính trị gia chạy theo thời, xanh vỏ đỏ lòng, hợp tác hoạt động với cán bộ Cộng Sản thứ thiệt và một nhóm văn nô bồi bút nằm vùng hải ngoại.

 ChuSa cũng sẵn sàng đón nhận mọi sự đóng góp thêm, kể cả sự phê phán của quí độc giả để giúp cho vấn đề lịch sử, một nghi án thơ văn, được sáng tỏ, rõ ràng. 

Biết đâu khi viết bài này về đến Việt Nam. Cục Phản Gián hiểu rằng kế hoạch bịp bợm, dối trá của họ đã bị đổ vỡ, và biết đâu mai đây khi tình thế thay đổi thì buộc lòng ông Nguyễn Chí Thiện phải nói lên sự thật và trả lại tên tuổi của một nhà thơ vĩ đại trong thế kỷ 20 của dân tộc Việt Nam. 

Ông Nguyễn Chí Thiện hiện đang ở Hoa Kỳ (đã chết) có anh ruột là một cựu sĩ quan VNCH ở tiểu bang Virginia, Hoa Kỳ và chị em ruột. Chúng tôi đã nhiều lần đặt vấn đề ông Nguyễn Chí Thiện, người đã đến Hoa Kỳ ngày 1/11/1995, thật sự ông là ai?. Giờ đây, chúng tôi đưa ra câu hỏi Ai là thi sĩ “thật” của tập thơ Vô Đề, một tập thơ mà chính ông Nguyễn Chí Thiện cũng “không thể” đặt tên cho tập thơ vì tên Hoa Địa Ngục là do người khác đặt rồi ông Thiện ung dung sử dụng.... 

Người viết bài biết rõ kế sách, ý đồ chiếm đoạt của Cộng sản để xóa “tên Vô Danh” là tác giả “thật” của tập thơ, và xin kính cẩn mong rằng những lý luận, lý đoán trong bài này không bị hiểu lầm hay hoen ố. Nếu ta hiểu Cộng Sản thì chúng ta cũng hiểu rằng chúng lợi dụng bất cứ một tình huống nào để đạt mục tiêu tuyên vận chính trị hải ngoại, hầu tạo cách gỡ một thế bí cho Cộng sản tìm đường lột xác (từ Đỏ sang Xanh).

Ông Nguyễn Chí Thiện, sinh năm 1939 năm nay 2004 là 65 tuổi. Biết tiếng Anh, Pháp nhưng không biết trình độ cao thấp ra sao, có trí nhớ rất mạnh, chưa hề bị bệnh lao và rất khỏe mạnh, có tài diễn thiết, hùng biện nhiều giờ không mệt mỏi, được các ông Trần Nhu, Minh Thi, Bùi Duy Tâm làm “chứng nhân” rằng đã biết ông Nguyễn Chí Thiện “trong tù” từ năm 1980. Và xác nhận rằng ông Thiện “chính là” tác giả tập thơ Vô Đề của tác giả Vô Danh. 

Tất cả những gì ông Thiện khai về lý lịch thì rất sơ sài, ít chi tiết và có thể nói là không rõ ràng, khá “một chiều” vì không ai có thể kiểm chứng. Sau này, sau khi tiêu diệt Cộng Sản, người ta mới có thể hiểu rỏ hơn về cái tung tích “bí mật” của ông Nguyễn Chí Thiện chăng?. Ông Thiện đã nhận được giải thưởng quốc tế chưa..???, đã cầm khoảng 8 lạng vàng “khoảng 4,000 đôla” của Mặt Trận Kháng Chiến Hoàng Cơ Minh giao cho tại Hải Phòng kèm theo là nhiều quà cáp giải thưởng khác nữa. Sau đó, ông Thiện được nhà nước Cộng Sản thu xếp cho đi Mỹ và ông đến Mỹ ngày 1/11/1995, Đây là trường hợp hiếm có và duy nhất trong gần 60 năm Cộng Sản cai trị miền Bắc.

Bài viết này khá dài vì phải mổ xẻ, so sánh lại những bài thơ của cả hai người Tác Giả Vô Danh và ông Nguyễn Chí Thiện, cho vấn đề luận bàn về thơ Vô Đề vì có nhiều độc giả chưa có dịp đọc những bài thơ bất hủ, với phần viết về thơ Vô Đề của Tác Giả Vô Danh( Tập Hoa Ðịa Ngục l) khác biệt với phần viết về thơ có ký tên của ông Nguyễn Chí Thiện là những bài trong cuốn Hoa Địa Ngục 2 hay là "Hạt Máu Thơ" xuất bản khoảng tháng 3 hay tháng 4, 1996. 

Trong một ngày đẹp trời của tháng 6/1979 đánh dấu cuộc gặp gỡ của người đàn ông lớn tuổi với một người “Anh”. Ông khoảng trên 50 tuổi, gầy gò ốm yếu, nhưng với ánh mắt quắc thước trao cho “người Anh” một tập giấy, bằng một giọng thản nhiên từ tốn, ông nói bằng tiếng Pháp thật lưu loát với người Anh. Đại ý là ông muốn gởi gấm tập thư của ông và mong người “Anh” sẽ phổ biến ra hải ngoại dùm, đây là tiếng pháo lệnh cũng là tiếng nói cho hàng triệu nạn nhân Cộng Sản, người này không ngỏ ý xin bất cứ một ân huệ nào nơi người “Anh”. 

Dĩ nhiên người Vô Danh này không yêu cầu người “Anh” “xin Cộng Sản ban nhân quyền cho người Việt Nam” ông cũng không đòi “ hòa hợp hòa giải bất bạo động” với Cộng Sản. Ông cũng hiểu rằng đất nước của ông muốn thoát khỏi gông cùm Cộng Sản chỉ có một phương cách duy nhất là lật đổ bạo quyền Cộng Sản bằng “bạo lực” thế thôi. 

Trong tình huống đó, nhà thơ Vô Danh không muốn để tên thật của mình vào tập thơ. Ông chỉ viết một bức thư bằng tiếng Pháp “rất rõ ràng lưu loát” và không ký tên. Ông Thi Sĩ Vô Danh cũng không hề trao hình ảnh nào cho người “Anh” hay bất cứ ai. 

Những hình ảnh được in trong cuốn Hạt Máu Thơ về gia thế Nguyễn Chí Thiện và đại gia đình cha mẹ đều là sự dàn xếp khoe khoan của cá nhân ông Thiện mà thôi (hình ảnh đó không liên quan gì đến gia thế tác giả Vô Danh). 

Trong mạng lưới Công an dày đặc ở Hà Nội và Bắc Việt thời đó, những bài thơ của ông Thi Sĩ Vô Danh đã được tuyệt đối giữ bí mật, cấm thố lộ với bất cứ ai, cấm phổ biến, nếu ai “nổi hứng” ngâm thơ, thì có nghĩa là sẽ bị giết ngay và tập thơ cũng bị thủ tiêu. Hoàn toàn khác với lời khoe khoan của Nguyễn Chí Thiện rằng ông có dịp “bàn” với Phùng Cung về bài thơ “Anh Gặp Em” (sáng tác năm 1965) và Phùng Cung đề nghị thêm chữ “thôi” để bớt “tội” cho tên y sĩ công an.

Thi sĩ Vô Danh là một danh nhân có cái nhìn sâu rộng về, vũ trụ, con người và xã hội. Với sự hiểu biết của ông, ta có thể hiểu rằng: ông không cần phải “bàn” với ông Phùng Cung hay với bất cứ ai về chữ “thôi” trong bài thơ “Anh Gặp Em”. 

Khi nói lên hoàn cảnh tù tội, đọa đày, đau khổ của hàng triệu người khiến ông “Thi Sĩ Vô Danh” không thể gặp bất cứ ai để bàn về thơ. Nếu “Phùng Cung” có thấy ông “Vô Danh” thì cũng phải tránh né hay tảng lờ vì công an có thể bắt vì “tội” dám nói chuyện với thành phần “tù tội” xấu. Do đó chuyện “bàn thơ” giữa ông Nguyễn Chí Thiện và ông Phùng Cung về chử“ thôi” hay “tội?” là hình thức đánh bóng cho Nguyễn Chí Thiện vì Cộng sản có thói quen là phải nổi danh “Kách mệnh”, để lất áp người khác. 

Sau này ông Thiện còn khoe đã gặp và mạn đàm để bàn về thơ với Hoàng Minh Chính tức Thượng Tướng Công An Phản Gián Trần Ngọc Nghiêm. Ông Thiện cũng tiếc rằng ông quen biết nhưng không được gặp Trung Tướng Trần Độ mà chỉ được nói chuyện qua điện thoại. 

Ông Thiện nói vậy thôi, chứ đâu ai biết là ông Thiện và Tướng Trần Độ “phê đảng để xây dựng đảng” đã có nhiều liên hệ sâu rộng thắm thiết, đã cùng nằm trong một chiến dịch “dân vận hải ngoại” ?. (Ai cũng biết Trung Tướng Trần Độ đã chết). 

Nói về sự quen biết với Hoàng Minh Chính tức là Thượng Tướng Công an Phản Gián Trần Ngọc Nghiêm, chủ nhiệm Hội Nghiên Cứu Mác Lê, hậu thân của Đệ Tam Quốc Tế kiêm lý thuyết gia hàng đầu của đảng Cộng Sản Việt Nam. Và khi nói về nhân vật nổi danh tên là Hà Sĩ Phu "sĩ phu Bắc Hà" và các hoạt động "chống đảng giả vờ" thì phải vạch trần tiểu sử của Hà Sĩ Phu đích thực là Trung Tướng Công an Phản Gián Nguyễn Xuân Tụ (đang hoạt động ở hải ngoại). 

Mục đích của Tác giả “Vô Danh” không muốn đưa ra tên tuổi để được nổi danh, nổi tiếng, nguyện vọng duy nhất của ông là chuyển đạt những dự kiến tương lai, trong tập thơ viết bằng máu và nước mắt của ông làm trong khoảng 20 năm trời, và ước mơ được nói lên nổi đau chung của dân tộc Việt Nam với thế giới bên ngoài. 

Tập thơ đã thể hiện sự đau khổ thầm lặng và ghê rợn của toàn thể dân tộc Việt Nam dưới bạo quyền Cộng Sản công an trị!. Chỉ có tác giả “Vô Danh” là người duy nhất có đủ tài năng thực hiện những án văn thơ bất hủ, để phơi trần sự đọa đày trong ngục tù Cộng Sản dã man tàn bạo đến mức khủng khiếp.

Thi Sĩ Vô Danh đã chuyển ra hải ngoại những bài thơ hùng hồn là những bản án kể tội Cộng Sản thì tập thơ này sẽ “tồn tại” với lịch sử văn học trong dân gian, và được phổ biến thành tài liệu chống Cộng, trở thành huyết thư hay “nhân chứng bia miệng” về tội ác Cộng Sản, và đó là phương thức quan trọng và cần thiết không kém sự sáng tác.

Thơ Của Tôi

…………………………………
Thơ của tôi là những gì kinh khủng
Như Đảng, Đoàn, như lãnh tụ, như trung ương
Thơ của tôi kém phần tưởng tượng
Nó thật như tù, như đói, như đau thương
Thơ của tôi chỉ để đám dân thường
Nhìn thấu suốt tim đen phường quỉ đỏ.

                   thơ Vô Đề - (1975)

Hồ Chí Minh đã dạy Công an, Cán bộ và Quân đội Cộng Sản: “tất cả mọi người ngoài đảng đều là kẻ thù của đảng” và của chế độ “mắt chúng nhìn ai cũng hóa kẻ thù”!. Lũ ma, quỷ Cộng Sản đã nhìn người “không cộng sản” hay là toàn thể dân tộc Việt là kẻ thù của chúng, chúng đã coi sự tra tấn, tàn ác, giết người dã man chỉ là trò chơi như giết ngóe. 

Ông Thi Sĩ Vô Danh, nhiều năm tháng sống trong lòng Cộng Sản đã dạy ông biết rằng: Cộng Sản không bao giờ khoan hồng, tử tế, thành thật, hay hòa giải hòa hợp, nhân quyền bất cứ ai. Hể lọt vào tay chúng thì phải chết, chết chính là một giải thoát ân huệ của “thượng đế”!. Đó là “thực tế cộng Sản” không ai có thể phủ nhận!. 

Những người có quá nhiều kinh nghiệm về sự tàn ác của Cộng Sản, ai cũng hiểu rằng: sống dưới chế độ Cộng Sản, chống chúng dù bất cứ dưới hình thức nào đều phải lãnh án chết. 

Chỉ đặc biệt riêng trường hợp ông Nguyễn Chí Thiện “làm thơ chống đảng” mà vẫn sống phây phây, huy hoàng, khỏe mạnh, “không có bệnh lao” thêm 16 năm nữa để được nhậu nhẹt với trùm Công an Cộng Sản Hoàng Minh Chính, được mạn đàm với Chánh Sở Công an Hà Nội và quản giáo trại giam tù cải tạo, được Mặt Trận Kháng Chiến Hoàng Cơ Minh tiếp tế tại Hải Phòng, kèm theo 8 lạng vàng giá trị 4,000 đôla và lo lắng giúp cho đi Mỹ, được học ăn, học nói, học chính sách chính trị, học đóng kịch cho thật giỏi, học diễn thuyết, để rồi được nhà nước ta ưu ái “gửi”  đi Mỹ, để được hải ngoại đón rước rầm rộ như một vĩ nhân, như một cứu tinh của dân tộc, như một chính trị gia đại tài, đi đến đâu cũng được hoan hô với những tràng pháo tay rộn rã, được quay phim chụp hình ảnh với báo biếu, đăng tải tiếp ứng, được Mặt Trận Kháng Chiến Ma Hoàng Cơ Minh ứng hơn 5 triệu Mỹ kim tiền đài thọ, tổ chức đi khắp nơi kể cả Liên Hiệp Quốc, để “lạy van xin” Cộng Sản ban cho dân Việt Nam chút nhân quyền là đủ!

Vào đầu năm 1980, Việt Cộng mới “nghe” những bài thơ Vô Đề trên đài BBC, nhận thấy sơ hở không tác giả nên thừa cơ hội tức tốc tìm người để thay thế cho tác giả Vô Danh. Vì tính kế hoạch kiếm người thay thế, nên Việt Cộng “không cần” phải tìm ra tung tích, lý lịch tác giả Vô Danh. 

Nhưng Cục Phản Gián lại không được” thông minh” nên dù có đọc toàn bộ tập thơ, cũng không rõ những chi tiết quan trọng“ ẩn dấu” bên trong tập Thơ đợi dịp bừng sáng ở hải ngoại, cách dùng từ ngữ trong tập thơ, các danh từ Triết Học (Thiền) trong các bài thơ, cũng như các tín hiệu mà chỉ có một số người đặc biệt nào đó mới khám phá ra được, hoặc tiểu sử cá nhân của ông được tỏ lộ là: con một, độc thân, chỉ có cha mẹ già, trình độ Pháp văn thật thông thạo, lưu loát theo lá thư ông viết kèm theo tập thơ, và tuổi tác đã cao.... 

Cộng Sản Hà Nội khó có thể tìm được người tương đương về tuổi tác với ông Thi Sĩ Vô Danh, luôn trình độ Pháp văn khá ở miền Bắc vào năm 1980. Ba yếu tố: tuổi tác, trình độ Pháp văn, trình độ thơ văn khó tìm được trong thành phần “bần cố nông”, vì chính sách tiêu diệt tất cả thành phần trí thức, chỉ có thành phần đảng viên, cán bộ cao cấp với tiêu chuẩn “thật bần cố nông” mới tồn tại. thì làm sao đào tạo được người “đem chuông đi đánh xứ người” !. 

Trước năm 1979, không ai biết về Nguyễn Chí Thiện, chỉ sau khi ông Thi Sĩ Vô Danh đã chuyển tập thơ ra hải ngoại và được in tại Hoa Kỳ sau năm 1979 nhiều tên khác nhau được đặt cho tập thơ Vô Đề, mặc dầu Thi Sĩ Vô Danh không muốn như vậy. 

Sau khi xếp đặt và “tạo” ra một nhân vật mới với cái tên Nguyễn Chí Thiện trở thành tác giả để “ẳm trọn” tập thơ Vô Đề, Cộng Sản đã thổi phồng, tạo danh, gây ấn tượng cho tên tuổi Nguyễn Chí Thiện “chính là” tác giả tập thơ Vô Đề, sự thành công mau lẹ đến nỗi mỗi người hải ngoại đều “yên chí” tác giả Vô Danh chính là Nguyễn Chí Thiện!. 

Tiếp theo, Cộng Sản thu xếp người như các ông Trần Nhu và Minh Thi gài khéo cho ở cùng trong “tù” với ông Nguyễn Chí Thiện, để ông Thiện ngâm “thơ” cho họ nghe và gây ấn tượng là đã gặp thi sĩ thứ “thiệt”!. 

Tiện đây, ChuSa cũng xin nhắn với Công an Phản Gián Hà Nội biết rằng: muốn bịp người Việt hải ngoại cũng khó lắm. Chuyện đời “đâu còn đó”. Văn sỡi Công an Nguyễn Huy Thiệp đi Mỹ hồi tháng 9/1996, rồi lại về êm ru, vì chỉ có thời gian ngắn và Thiệp cũng không dám “gáy” khi phải đối diện sự văn minh tân tiến của người Mỹ và người Việt hải ngoại. Dù cây kim đươc che đậy khéo léo ở trong bọc, thời gian sẽ lòi ra huống chi thành phần cán bộ háo danh ham lợi gian ngoan. Chúng tôi cũng nhắn cho Cục Phản Gián biết rằng: kế hoạch nhà quê của Vẹm và cán bộ nhà quê Nguyễn Chí Thiện bao giờ bịp nổi chúng tôi.

Có thể nhiều độc giả đi trước tháng tư đen 1975!. Nhất là những người trẻ tuổi không thể hiểu Cộng Sản tàn ác đến mức nào, những người “thân cộng” binh vực Cộng Sản và nói rằng lập luận trên đây có vẻ mơ hồ. Nhưng xin các bạn bình tĩnh suy luận mẫu tin nhỏ dưới đây do Việt Cộng đăng tải như sau : 

"Viện Kiểm Soát Nhân Dân ở Sài Gòn mới mở cuộc điều tra, và cũng theo báo chí trong nước cho biết qua một cuộc phỏng vấn Nguyễn Minh Chánh, Phó Giám Đốc Sở Lao Động, thì ông này nói rằng một năm ông ký đến 9,000 quyết định đưa đi cưỡng bức lao động, nên không có thì giờ để cứu xét từng hồ sơ". Một năm có tới 9,000 người bị bắt vì tội đi.... tản bộ ngoài đường và nhiều trường hợp bị công an Cộng Sản đánh chết kiểu “vô tội vạ”…. 

Dựa trên bảng thông tin trên, ta có thể phỏng đoán là 9,000 người này không mấy người được sống hay được tha mà trở về nhà. Thí dụ không bị đánh chết ngay thì cũng bị giam cầm không án xử, không thời hạn để bị bóc lột lao động cho đến chết. 

Trong chế độ Cộng Sản, Công an có toàn quyền bắt người bỏ tù không thời hạn, không xử án mà không cần biết có tội hay không. Chúng giết người vô tội vạ, hay là “giết trước báo cáo sau” hay không cần báo cáo là quyền “tiền trảm hậu tấu”. của Công An Cộng Sản . Vả lại ai cần để ý đến một xác chết?. 

Năm 1947, Hồ Chí Minh ra tiêu lệnh (standing order) giết “hết Việt Gian” thì có mấy chục vạn người bị bắt và bị thủ tiêu ngay trong đêm tối, xác cho trôi sông, mà không bao giờ có giấy tờ sổ sách hay báo cáo. 

Đầu năm 1961, Phạm Văn Đồng (do lệnh của Hồ) ký tiêu lệnh bắt giam “học tập cải tạo” tất cả những thành phần bất mãn, bất hảo, chống đối, phản động, phản “kách mệnh”, chửi cộng Sản, cán bộ mắc bệnh công thần... thì Công an cứ việc theo đúng “tiêu chuẩn” đưa ra, rồi bắt hàng triệu nạn nhân trong mọi thành phần xã hội đi học tập cải tạo trong hàng ngàn trại tập trung... 

Hồ Chí Minh “chúc mừng năm mới” nghe như tiếng yêu tinh, vì y “chúc Tết” này là chỉ thị giết và là bắt bỏ tù cả nước!. Ông Thi Sĩ Vô Danh viết về việc này để kể tội Hồ Chí Minh như sau :

Chuyên Chính Vội May
…………………………………..
Tiếng mừng năm mới, tiếng yêu tinh!
Ôi cái mùa xuân gieo khiếp kinh
Vào trong tim óc, phá gia đình
Ngục tù dứng gấp không vơ xuể
Vạn ức Mường, Mèo, Thái, Thổ, Kinh!.

                   thơ Vô Đề (1962)

(Ghi chú: Mường, Mèo, Thái, Thổ là người sơn cước vùng thượng du Bắc Việt, người Kinh là người Việt. Những người sơn cước bị công an Cộng Sản bắt đi tù khá nhiều vì họ quen sống lối tự do, không thê chấp nhận Cộng Sản ngu dốt và trái với tự nhiên, thiên nhiên. Cộng Sản thù ghét nhất người Mường tức Hmong. Từ năm 1975 tới nay năm 2004 khoảng 250,000 người Hmong đã bị Cộng Sản tàn sát.số còn lại chạy trốn qua biên gìới Lào tiếp tục bị truy lung, được Ủy Hội Liên Hiệp Quốc cứu giúp và đang định cư tại North Carolina, Hoa kỳ ).

Từ khi Người “Anh” nhận tập thơ và đem ra hải ngoại, Công an hoàn toàn không biết ông Thi Sĩ Vô Danh là ai, tên gì, và Người “Anh” cũng im lặng không nói !. Lãnh đạo Cộng Sản Hà Nội cũng không biết, và không cần biết cái gì đã xảy ra. 

Mấy tháng sau, người Anh cho phổ biến nhiều bài thơ Vô Đề trên đài BBC nhưng không cho biết tên tác giả. Trong một dịp khác, người “Anh” đưa tập thơ này cho một cựu chính khách Việt Nam Cộng Hòa (ông Châu Kim Nhân???) và tập thơ này đã đến tay ông chủ nhiệm tạp chí Văn Nghệ Tiền Phong. 

Ông Hồ Anh chủ nhiệm Văn Nghệ Tiền Phong đã cho in tập thơ này ngay, để phổ biến theo sự mong ước của tác giả, với tên tác giả là “Khuyết Danh”, dưới tên đề “Bản Chúc Thư Của Một Người Việt Nam”, theo tinh thần của lá thư, cũng có nghĩa là “chúc thư” của một người, đại diện cho hàng triệu triệu người Việt nam đang sống ngắc ngoải dưới gông cùm Cộng Sản. 

Sau đó, có tin một người khác đã lẹ tay in photocopie “đánh cắp” và in sang một ấn bản khác để...” thương mãi kiếm lời” vào cuối tháng 9/1980. Bản in của Văn Nghệ Tiền Phong thời đó chỉ bán với giá tượng trưng là $1.50 một cuốn và ông chủ nhiệm Hồ Anh đã lỗ một số tiền khá lớn.

 Ông “Thi Sĩ Vô Danh” sinh khoảng 1920 hay 1925 và có thể đỗ Tú Tài Pháp (Baccalauréat) năm 1943 hay 1944, trước khi người Pháp bị Nhật đảo chính ngày 9/3/1945 với hầu hết các giới chức cai trị thuộc địa Pháp bị Nhật cầm tù. Một vài sĩ quan cao cấp Pháp khác (tướng Alessandri) đã cố gắng mang một ít tàn quân Pháp từ (Tông) Sơn Tây chạy bộ sang Vân Nam (Yunnan) và trú ngụ tại Côn Minh (Kunming). 

Thời xa xưa, trước năm 1945, rất ít người học và đậu Tú Tài Pháp. Học trong các trường phần nhiều phải theo chương trình Pháp. Tiếng Pháp đã khó, nhưng thi đậu hai phần Tú Tài Pháp có thể nói là thiên nan vạn nan. Mục đích “ngu dân” của Pháp là hạn chế tối đa công việc đào tạo nhân tài, thành phần trí thức...bằng cách hạn chế tối đa bằng nhiều hình thức khó khăn, để cản trở không cho mấy người được đỗ đạt, tốt nghiệp trung học, rồi từ đó có thể nhập đại học. 

Chính sách thực dân quả thâm độc. Người Pháp không cần mở trường Đại Học tại Sài Gòn. Các gia đình khá giả miền Nam thường có quốc tịch Pháp, có tên “Tây”, và gửi con đi Pháp học. Thời đó, nhiều người miền Nam loại dân tỉnh, giới giàu có “trí thức”, nói sõi tiếng Pháp hơn tiếng Việt và thường hãnh diện với quốc tịch Pháp của mình. 

Nhưng thực dân Pháp lại mở trường Đại Học ở Hà Nội với mục đích kềm chế không cho người Trung và Bắc đi Pháp học. Nếu học đại học ngay tại Hà Nội thì người Pháp có thể theo dõi, quan sát, thanh lọc. Nếu “thân” Pháp thì sẽ học đại học suông sẻ, rồi ra làm “quan cho Pháp” hay công chức “ngạch” cao cấp. Nếu manh nha hội họp chống Pháp thuộc địa, chống thực dân, gia nhập các tổ chức đảng phái Cách Mạng.... thì sẽ được Sở Mật Thám Đông Dương (Sureté Fédérale) chiếu cố ngay.

Trong Đệ Nhị Thế Chiến, từ 1940 đến 1945, số sinh viên đại học ở Hà Nội chỉ có khoảng chưa đến 100 người. Nghiên cứu kỹ thơ của ông Thi Sĩ Vô Danh, ta thấy ông là con trai “một”, con nhà khá giả, nên đã được song thân cố gắng cho đi học trường trung học Pháp, có lẽ là Lycée Albert Sarraut. 

Ngoài trường Lycée Albert Sarraut, còn có trường “thầy dòng” do các sư huynh Thiên Chúa Giáo Puginier cũng dạy nhiều tiếng Pháp. Trường Lycée Albert Sarraut lấy tên viên toàn quyền thực dân Pháp nổi tiếng thực dân ngày trước. Albert Sarraut đã có nhã ý “không xây dựng” bệnh viện, trường học tại các vùng đông dân cư xứ Bắc Kỳ, để cho “dân Annam chúng chết bớt” để khỏi gây ra hậu quả xấu về chính trị và xã hội!. 

Trường Bưởi dành riêng cho người Việt Nam cũng đã nổi danh một thời và cũng có dạy tiếng Pháp. Sau này, khi tái lập sự học tại Hà Nội năm 1948, 1949, trường Bưởi được đổi tên thành trường Chu Văn An và dạy nhiều tiếng Việt hơn tiếng Pháp. Trước năm 1945, một trường tư thục trung học khác có tên là Thăng Long, (Võ Nguyên Giáp đã từng là giáo sư trường này).

Tiếng Pháp không “dễ” như tiếng Anh vì grammar rất phúc tạp. Nội một việc chia verb và phân tích grammar, phân đoạn câu cú, (analyse grammaticale và analyse logique) và ghi nhớ đến thuộc lòng đã làm nhiều trẻ nhỏ Việt Nam nhức đầu trong nhiều ngày đêm. 

Nói tiếng Pháp có vẻ... dễ nói, dù đó là tiếng Tây... bồi, nhưng viết được tiếng Pháp trôi chảy, có đủ lý lẽ, văn hoa, đúng mẹo mực câu cú, cần phải có trình độ thật cao và kinh nghiệm thực tập hay làm việc, viết lách, có khi cao hơn trình độ Tú Tài Pháp rất nhiều. 

Ngày xưa, những học giả như Nguyễn Mạnh Tường, Phạm Duy Khiêm, Trần Đức Thảo, Nguyễn Thế Truyền.... kể cả ông Đàm Quang Thiện “vạn quốc đốc tờ hàm”, đã từng nổi danh trên văn đàn qua tiếng Pháp thật giỏi và lưu loát, hơn cả nhiều người Pháp trí thức!. 

Ông Thi Sĩ Vô Danh đã chứng tỏ một học lực uyên thâm với kiến thức quảng bác già dặn trước khi Cộng Sản cướp chính quyền tháng 8, năm 1945 (năm này ông Thiện mới 6 tuổi, Thiện sinh năm1939). Những độc giả nào rành tiếng Pháp, nhất là các vị sống bên Pháp, đọc bản thư “tuyệt mệnh” hay là di bút của ông Thi Sĩ Vô Danh với bút ký, thì có thể đánh giá trình độ và kinh nghiệm tiếng Pháp của ông lá thơ viết như sau :

Monsieur!

C'est au nom des millions de victimes innocentes de la dictature, déjà succombés ou subissant encore une mort lente et douloureuse dans les bagnes communistes, que je vous prie de faire publier ces poèmes dans votre pays libre. C'est le fruit de mes vingt ans de travail. La plupart en ont été créés dans mes années de détention. Je pense qu'à nous, les victimcs, il appartient plus qu'à personne d'autre de montrer au monde les souffrances incroyables de notre peuple opprimé et torturé à merci...

De ma vie brisée, il ne reste qu'un seul rêve, c'est de voir le plus grand nombre possible d'hommes prendre conscience de ce que le communisme est un grand fléau de I'humanité.

Veuillez agréer, monsieur, 1'expression de ma profonde reconnaissance ainsi que celle de mes compatriotes infortunés!

          Dịch:
          Thưa ông!

Nhân danh hàng triệu nạn nhân vô tội của chính thể độc tài đã ngã gục hay còn đang phải kéo dài cái chết chậm chạp và đau đớn trong ngục tù cộng Sản. Tôi xin ông vui lòng cho xuất bản tập thơ này tại phần đất tự do của quý quốc. Đây là kết quả của hai mươi năm làm việc của tôi. Phần lớn được sáng tác trong những năm dài bị giam cầm. Tôi nghĩ rằng không phải ai khác mà chính chúng tôi, những nạn nhân, có trách nhiệm phải phơi bày cho thế giới thấy sự khổ nhục không thể tưởng tượng nổi của dân tộc tôi còn đang bị áp bức và hành hạ thẳng tay...

Cuộc đời tan nát của tôi chỉ còn một ước mơ, đó là được thấy nhiều người hơn nữa trên thế giới ý thức rằng Cộng Sản là một đại họa khủng khiếp cho nhân loại.

Xin ông nhận nơi đây lòng biết ơn xâu xa của tôi cũng như của đồng bào bất hạnh của tôi.
(Bức thơ không ký tên.)

Sau một thời gian dài sống trong chế độ ngục tù Cộng Sản, mà Thi Sĩ Vô Danh còn viết được một lá thư bằng tiếng Pháp gọn ghẽ ngắn ngủi nhưng đầy đủ ý nghĩa với tư tưởng cao cả như thơ của ông. Người viết bài này có hiểu tiếng Pháp chút đỉnh, nhưng chỉ biết cúi đầu bái phục. 

Chu-sa, người viết còn được biết là ông Nguyễn Chí Thiện được bà chị tên là Hảo biết tiếng Pháp, dạy tiếng Pháp cho ông Thiện trong khoảng 6 tháng, trước khi đi Mỹ. Nếu học để nói viết lưu loát tiếng Pháp trong 6 tháng là điều không thể thực hiện, 6 tháng học tiếng Pháp may ra đủ để đi.... chợ!. Quả thật, ông Thiện không bao giờ đả động đến cái lá thơ viết bằng tiếng Pháp này. 

Trở lại tâm nguyện của Thi Sĩ Vô Danh. Ông đã quyết tâm, bằng bất cứ giá nào, để phổ biến được tập thơ ra ngoại quốc, ông phải cho thế giới hiểu được tất cả tội ác của Cộng Sản và những tội ác đó của Cộng Sản sẽ được phanh phui. 

Ông không nghĩ đến đề tên ông hay đặt tên cho tập thơ. Vả lại đây cũng không phải là “một tác phẩm” văn học theo ý nghĩa sáng tác thông thường. Mỗi bài thơ, mỗi câu thơ, mỗi chữ là một tiếng nói căm hờn, một ngọn roi quất vào mặt chế độ Cộng Sản, thì cần gì phải đặt tên!. 

Ý muốn của Thi Sĩ Vô Danh là tập thơ như một tín hiệu được gởi đến những nguời mà ông muốn gởi, đến tay người đọc ở hải ngoại và những điều ông viết ra sự thật khốn cùng của người dân miền Bắc sống trong chế độ lao tù Cộng Sản sẽ được thế giới biết đến là đủ!. 

Nếu đọc tập thơ Vô Đề (Hoa Địa Ngục I) của ông Thi Sĩ Vô Danh, ta sẽ thấy ông không bao giờ chủ trương “hòa hợp” hay “đòi nhân quyền” với Cộng Sản. 

Thi Sĩ Vô Danh cũng hiểu Cộng Sản...cỡ nhỏ từ quản giáo trại giam trở lên, đến cỡ gộc cấp cao như phó tiến sĩ Hà Sĩ Phu tức Trung Tướng Công An Nguyễn Xuân Tụ, cán bộ giáo vận cấp thành ủy Đỗ Trung Hiếu, viện trưởng viện nghiên cứu Mác Lê Hoàng Minh Chính, đại tướng công an Nguyễn Hộ, Thượng tướng Công an La văn Liếm tức Bảy Liếm và trung tướng Công an bảo vệ...cựu thứ trưởng Công an Lê Văn Quý tức Lê Hồng Hà... toàn là một thứ sắt máu, bịp bợm, đểu cán như nhau, mà ông Vô Danh không cần phải gặp họ, “nói chuyện, mạn đàm”.  

Ngược lại, ông Nguyễn Chí Thiện được “nói chuyện, mạn đàm” với những tên trên đây, vì ông Thiện cũng cao cấp ngang hàng với họ, như ông Thiện đã cho mọi người biết. 

Ông Thi Sĩ Vô Danh  cũng hiểu rằng : phải là cộng Sản cỡ trung kiên nhất, phải tiêu diệt rất nhiều “kẻ thù của đảng, kẻ thù giai cấp, và bọn phản động, phản cách mệnh”, nên mới leo lên được tới những cấp bực cao cấp như vậy. Bọn này có thể lừa bịp, gạt gẫm và “giết” bất cứ ai để bảo vệ Đảng, bảo vệ chế độ Cộng Sản, vì chúng là bọn người được sinh ra để lừa bịp và gây tội ác, thì có hành động tàn bạo và độc ác mà chúng không dám làm.?...người dân càng khốn khổ thì chúng càng phung phí xa hoa...

Đồng Lầy

……………………………………
Đạo lý tối cao ở xứ đồng lầy (cộng Sản)
là lừa thầy, phản bạn
và tuyệt đối trung thành vô hạn
với Đảng, với Đoàn, với Lãnh tụ (Hồ) thiêng liêng!
………………………………………………..

                   (thơ Vô Đề - Đồng Lầy - 1972)

Cộng Sản thích thú khi đánh lừa được người khác cho lọt vào bẫy để cho chúng lột sạch sẽ, bỏ tù, tra khảo để bắt thêm người khác nữa, rồi giam cầm bóc lột lao động cho tới chết. Thi Sĩ Vô Danh cũng thừa hiểu rằng chống Đảng, chống Cộng Sản, là phải bị bắt, bị tra tấn và bị giết ngay, nói gì đến được nhà nước khoan hồng và cho đi Mỹ dễ dàng!. 

Nếu nhà nước cho đi Mỹ thì phải có kế hoạch phản gián và dụng ý chiến lược bên trong, không thể khơi khơi “được” đi Mỹ để tiếp tục chửi nhà nước cộng Sản!. Cộng Sản Hà Nội cũng vui mừng đánh lừa người Việt hải ngoại: “cho chúng bay hoan hô vỗ tay, tôn vinh, đề cao, trọng vọng, kính cẩn một cán bộ cộng Sản loại gộc nhất, sắt máu nhất, nguy hiểm nhất, trung kiên nhất... cho vui”!. 

Như vậy ta có thể thấy ông Thi Sĩ Vô Danh bắt đầu làm thơ tố giác tội ác Cộng Sản và những thủ đoạn gian manh, ác bá của tập đoàn Cộng Sản Hồ Chí Minh ngay từ những năm 1956,1957 cho đến năm 1978 . (Đây là kết quả của hai mươi năm làm việc của tôi - như ông đã viết trong lá thơ). Bằng chứng ông Thi Sĩ Vô Danh 20 tuổi hoặc có thể 21, 22... (tuổi 20...) vào năm 1945, khi Hồ Chí Minh và Việt Minh Cộng Sản cướp chính quyền 19/8/1945, ngay ở đầu bài thơ trường thiên Đồng Lầy (lúc này Nguyễn Chí Thiện mới có 6 tuổi – 1945, ông Thi Sĩ Vô Danh 20 tuổi hoặc hơn) ông đã viết :

Đồng Lầy

Ngày ấy, tuy xa mà còn đấy
tuổi hai mươi (20) tuổi bước vào đời
Hồn lộng cao, gió thổi chơi vơi...
bốn phía bao la chỉ thấy
chân mây, rộng mới tuyệt vời!
……………………………….

Nhưng rồi một sớm đầu thu mùa thu trở lại ( mùa thu 1945)
Tuổi hai mươi mắt nhìn đời trẻ dại
Ngờ cờ sao rực rỡ
Tô thắm màu xứ sở yêu thương?

          (thơ Vô Đề - Đồng Lầy - 1972)

Năm 1945, Nhật đã đảo chính Pháp từ tháng 3, và đến mùa Thu tháng 8 tin Nhật đầu hàng loan khắp nơi. Thanh niên tuổi hai mươi là ông Thi Sĩ Vô Danh đang tràn đầy nhựa sống và, với một tâm hồn nồng nàn tình yêu nước, ông có nhiều ước mơ cho dân tộc. 

Ông Thi Sĩ Vô Danh không mơ mộng hão huyền viển vông, cũng như tất cả lớp thanh niên thời đó, ông Thi Sĩ Vô Danh mơ đến một nước Việt Nam hùng mạnh trong một chính thể Dân Tộc, Nhân Quyền và Nhân Chủ. 

Lúc này Bùi Bằng Đoàn, (bố Bùi Tín), làm Tổng Đốc Hà Đông đã được Việt Minh móc nối để yểm trợ cho chúng cướp chính quyền mà “không cho” lính dẹp. Ông Quản Dưỡng, Quản cơ tỉnh Hà Đông, không biết sự thỏa thuận bí mật này nên đã ra lệnh cho lính nổ súng làm cho Việt Minh cuống cuồng. 

Sau đó Việt Minh điều đình ngưng bắn, “hòa giải hòa hợp”, rồi bắt ông và trả thù ngay. Ông Quản Dưỡng có thể là vị anh hùng quốc gia chống Cộng đầu tiên và cũng là người quốc gia đầu tiên bị cộng Sản thủ tiêu dưới chiêu bài “hòa giải hòa hợp”. 

Nhờ công lao này mà Tổng Đốc Bùi Bằng Đoàn được Hồ Chí Minh cho làm chủ tịch quốc hội, khi chết, cho làm lễ quốc táng, cả nước để tang 3 ngày. Bùi Tín, lúc đó độ 19 tuổi, được “cụ Hồ” ưu ái cho tập ấm làm quan Cộng Sản, làm Công an bảo vệ và cần vụ hầu hạ điếu đóm bưng ống nhổ cho “cụ” Hồ. 

Năm 1947, Tín được “cụ” Hồ cho đi học trường võ bị Trần Quốc Tuấn. Nhờ giỏi ngoại ngữ (tiếng Pháp) với học lực tú tài Pháp, lại được gia nhập làm đảng viên thực thụ, lại được “cụ” Hồ giới thiệu gởi gấm, Tín được điều động làm việc cho Cục Phản Gián. 

Năm 1947,1948 Bùi Tín làm đại đội trưởng đại đội đặc công quyết tử chuyên tàn sát những người sáng giá tại nông thôn vùng Quảng Trị, Quảng Bình. Mang cấp bậc đại tá kiêm phó Tổng Biên Tập tờ báo “Chính Thống” của nhà nước Cộng Sản, báo Nhân Dân, thì Tín chỉ có thể là Đại tá phản gián, không phải Đại tá chiến trận. Hiện nay, ta chỉ cần đọc những bài viết của Tín trong tờ Phụ Nữ Diễn Đàn, hay vài tờ báo khác, ta sẽ thấy Tín vẫn viết “lách”, nói những chuyện không tưởng, “như” một phó Tổng Biên Tập báo Nhân Dân, không có vẻ gì là thay đổi, đổi mới hay bỏ đảng.

Cũng từ tháng 8 mùa thu năm 1945. Thi Sĩ Vô Danh đã tuổi hai mươi (từ 20 trở lên) đã biết trước và đã ‘Ngờ’ lá ‘cờ’ đỏ ‘Sao’…. vàng sẽ không làm gì được để ‘Tô Thắm’ cho đất nước cho ‘Xứ Sở Yêu Thương’ của mình. 

Nhưng toàn dân lúc đó hầu như chưa hiểu Cộng Sản là cái gì cả, cho nên một số lớn trí thức họ đã tin và đi theo Cộng Sản để rồi lỡ bước sa chân ôm hận ngàn thu, chứ người đã hiểu và biết Cộng Sản, thì lúc nào họ cũng nghi “Ngờ” những lời tuyên truyền của bọn Cộng Sản, vì họ biết Cộng Sản chỉ giỏi lừa bịp và sống trong sự dối trá. 

Thi Sĩ Vô Danh khi nhìn những ‘lá cờ đỏ sao vàng rực rỡ’ ông biết rằng bọn hung bạo Việt Minh đã “lên đường” với “cách mệnh tháng 8”, thẳng tay phá bỏ truyền thống, nền tảng và giềng mối quốc gia dân tộcViệt Nam. 

Ông Nguyễn Chí Thiện lúc đó mới có 6 tuổi và mới đi học lớp 1, nhưng khi khói lửa chiến tranh chống Pháp nổi lên cuối năm 1946, thì ông Thiện, cũng như hầu hết thanh thiếu niên Hà Nội và Hải Phòng và tất cả thị xã lớn miền Bắc vào đến Thanh Hóa, lúc đó phải tản cư vì chiến tranh và tiêu thổ kháng chiến, và coi như mất một năm học. 

Với cái tuổi 16 năm 1955, dù có “tốt nghiệp trung học” đi chăng nữa, làm sao ông Thiện có thể hiểu nổi sự đau xót bị Cộng Sản lừa gạt, sự tàn bạo của đấu tố cải cách ruộng đất giết nửa triệu người (1955-1956) như ông Thi Sĩ Vô Danh?. Ta hãy coi ông Vô Danh “tả chân tướng” Hồ Chí Minh và cải cách ruộng đất trong bài “Không có gì quý hơn độc lập tự do” :

Không có gì quý hơn độc lập tự do

Không có gì quý hơn độc lập tự do!
Tôi biết nó, thằng (Hồ) nói câu nói đó!
Tôi biết nó, đồng bào miền Bắc này biết nó!
Việc nó làm, tội nó phạm ra sao?
Nó đầu tiên đem râu nó bện vào
hình xác lão Mao lông lá
Bàn tay Nga đầy băng tuyết giá
Cũng nhoài qua lục địa Trung Hoa
Không phải xoa đầu, mà túm tóc nó từ xa.
Nó đứng không yên, tất bật, điên đầu
Lúc rụi vào Tàu, lúc rúc vào Nga
Nó gọi Tàu Nga là cha anh nó
Và tình nguyện làm con chó nhỏ
Xông xáo giữ nhà gác ngõ cho cha anh
……………………………………….
Đường nó đi trùng điệp bất nhân
Hầm hập trời đêm nguyên thủy
Đói khổ dựng cờ đại súy
Con cá lá rau nát nhầu quản lý
Tiếng thớt, tiếng dao vọng từ hồi ký
Mắt nó nhìn ai cũng hóa kẻ thù
Vì ai cũng đói mòn nhục nhằn cắn răng tạm nuốt
Hiếm có gia đình không có người bị nó cho đi suốt
Đất nó thầm câm cũng chẳng được tha
Tất cả phải thành loa
Sa sả đêm ngày ngợi ca nó và Đảng nó
………………………………………

                   thơ Vô Đề - (1968)

Cộng Sản đưa thanh niên vào xâm lăng miền Nam đã bị Mỹ giết khoảng 3.2 triệu người. Cựu Bộ Trưởng Quốc Phòng Hoa Kỳ Rober McNamara nói như vậy ở Hà Nội ngày 8/11/1995. Cái quái gở và đểu giả của Hồ Chí Minh là bắt bỏ tù cả nước, biến cả nước thành cái nhà tù khổng lồ, rồi nói đểu: “Không có gì quý hơn độc lập tự do”!. 

Hồ bắt cả nước vào tù, phá tan nát gia đình, phá nát truyền thống ông cha Lạc Việt để áp dụng chuyên chính Cộng Sản, lạy Mác Xít, lạy Mao là cha, là tổ tiên, hành hạ nhân dân cho đói khổ và bóc lột lao động cho đến chết, rồi lại bắt cả nước phải thành loa để “ca ngợi nó và đảng nó”... Thơ của ông Vô Danh tả cái đểu và cái ác của cộng Sản đến thế, thật là tuyệt!. 

Để so sánh ta hãy đọc bài “thơ”, nếu ta có thể gọi là thơ, bài thơ “bác Hồ” dưới đây của ông Nguyễn Chí Thiện đọc vào buổi trưa thứ Bảy 11/11/1995, tại Trung Tâm Eden, thành phố Fall church và có in trong tập Hạt Máu Thơ :

Bác Hồ

Mấy chục năm xa nước,Bác không viết một phong nào về thăm gia đình trong nước
Cách mạng thành công, Bác vịn cớ bận, bất cần!
Bác Hồ ơi!. Bác không yêu nhà, Bác làm sao yêu được nước?
Không yêu người thân, Bác làm sao yêu được nhân dân?
Chỉ những kẻ ngu đần
bị mê lóa bởi tuyên truyền điêu trá
mới tin Bác là đạo cao đức cả
Yêu nước thương nòi, có nghĩa có nhân
Đến chị ruột Bác kia khi sống ở dương trần
…………………………………………….

                   thơ Nguyễn Chí Thiện - Hạt Máu Thơ – (1968)

Đọc lên ta thấy ngay ông Nguyễn Chí Thiện không biết làm thơ và cũng chưa bao giờ biết thơ là gì, so sánh Văn phong và Khẩu khí giữa Thi Sĩ Vô Danh và ông Nguyễn Chí Thiện trong tập thơ Vô Đề và Hạt Máu Thơ thì ta thấy rõ ràng nhất, ông Thiện cũng không hề bị cộng Sản bỏ tù bao giờ. Trái lại ông Thiện chỉ kể “tội” Hồ Chí Minh “xấu đến nỗi” không viết thư về thăm bà chị, đến nỗi bị bà chị (Thanh) từ bỏ, không nhận làm em bà... 

Ông Thiện vẫn quen mồm, quen miệng kính cẩn gọi “Bác Hồ” một cách thân mến. Ông Thiện gián tiếp xác nhận “Bác” Hồ quá lo việc nước đến nỗi không còn nghĩ đến người thân, không nghĩ đến lập gia đình. cái chuyện Hồ Chí Minh có bà chị tên là Thanh, không viết thư cho chị, và bị chị từ bỏ rồi vu cho bà Thanh là bị điên (tâm thần), có lẽ là chuyện do Cục Phản Gián phịa ra để nói “xấu” “bác” Hồ với người hải ngoại. Vì nếu chỉ có vậy, thì “bác” Hồ hiền khô, chẳng bỏ tù ai, chẳng đấu tố và chẳng giết ai bao giờ!. 

Ông Thiện cũng khen “bác Hồ” của ông ranh ma, tinh quái, và tài giỏi đến nỗi Tây chưa bao giờ bắt nổi!, “bác Hồ” của ông Thiện “giỏi” thế là “nhất” rồi còn gì?. Thi Sĩ Vô Danh gọi Hồ “là Hồ ly tinh, là quỷ, là ma, là thú dữ”, là kẻ đê tiện, quỉ quái, hút máu, hút mủ dân đen. Nên khi gọi bọn Cộng Sản hay Hồ Chí Minh, thì tiếng người không đủ chữ và cũng khó tìm trong ngôn ngữ, tiếng gì nguyên si để gọi bọn Việt cộng.

Thi Sĩ Vô Danh làm bài thơ dưới đây sau khi miền Nam thất thủ năm 1975: Nhưng ông và các đồng đội của ông vẫn bền gan chiến đấu, cho dù ở bất cứ hoàn cảnh nào và cho dù thời gian có làm cho con người họ luống tuổi (Ta vẫn sống và không hề lẫn lú), nhưng với một ý chí sắt thép, ông Thi Sĩ Vô Danh và đồng đội của ông vẫn sống và chiếc đấu cho đến ngày chiến thắng, và họ nhất định phải chiến thắng, họ nhất định phải hát khúc hát khải hoàn như bài thơ như sau :

Cuộc Chiến Đấu Này.

Cuộc chiến đấu này chưa phân thắng phụ!
Ta vẫn còn đây, và sắt thép còn kia!
Chết chóc thầm câm, cốt nhục chia lìa!
Ta vẫn sống và không hề lẫn lú
Ta muốn nói với loài dã thú (cộng Sản):
Khúc hát khải hoàn ta sẽ hát thiên thu!

                   (thơ Vô Đề - 1975)

Cũng tại Fall Church đêm 19/11/1995. Ông Nguyễn Chí Thiện đọc bài “thơ” dưới đây có vẻ muốn “nhái” theo bài thơ “Cuộc Chiến Đấu Này” của Thi Sĩ Vô Danh. Xin quí đọc giả bình tĩnh đọc lời văn bài thơ “Cuộc Chiến Đấu” của Nguyễn Chí Thiện dưới đây xem sao?.

Cuộc Chiến Đấu.

Cuộc chiến đấu trong mấy chục năm qua và trong hiện tại
mang đầy tính chất bi ai
Mấy chục năm chỉ là thảm bại
Nhưng anh dũng vô song cực kỳ vĩ đại
Lũ vô lại, vô thần thẳng tay đày ải
Danh dự lương tâm đòi chúng ta chống lại
Dân tộc cơ hàn xiết rên quằn quại
Rất mong chờ được thấy ngày mai
Chế độ này quái vật một không hai
Gieo rắc bao là đau đớn họa tai
Không thể để chính quyền trong tay chúng mãi
Không thể để lũ giết người ngự mãi trên ngai
Bằng giá nào phải cứu tương lai
Đâu phải đơn thuần chuyện nếm mật nằm gai
“Mười mất một còn”, tỷ số này sai!
Nhưng dù hy sinh thế nào cũng không quản ngại
Non nước này mới thấy được ngày mai
Non nước này trông đợi những tài trai!

          thơ Nguyễn Chí Thiện - Hạt Máu Thơ - 1983

Nếu ta chỉ thay đổi những “từ” “vô lại vô thần” thành “thực dân đế quốc”, đổi danh từ “chế độ” (dòng 9) thành “đế quốc”, đổi “ giết người ” (dòng 12) thành “đế quốc”... thì ta thấy bài "thơ" này là bài văn tuyên truyền vận động kêu gọi và động viên thanh niên nhập ngũ chống đế quốc, thực dân xâm lăng, dù phải "mười người thì hy sinh chết chín chỉ còn một", thế nào cũng không quản ngại. Như vậy non nước này mới có ngày mai (cộng Sản), nhờ những “tài trai”..., và khi đọc lên ta thấy văn phong thật sự của những kẻ Bần Cố Nông, không có một cái gì tối thiểu là Thơ cả, phải chăng Cục Phản Gián đã “biến” nó ra thành “thơ” của ông Nguyễn Chí Thiện ?

Cuộc chiến đấu trong mấy chục năm qua và trong hiện tại
mang đầy tính chất bi ai
Mấy chục năm chỉ là thảm bại
Nhưng anh dũng vô song cực kỳ vĩ đại
thực dân đế quốc thẳng tay đày ải
Danh dự lương tâm đòi chúng ta chống lại
Dân tộc cơ hàn xiết rên quằn quại
Rất mong chờ được thấy ngày mai
đế quốc này quái vật một không hai
Gieo rắc bao là đau đớn họa tai
Không thể để chính quyền trong tay chúng mãi
Không thể để lũ đế quốc ngự mãi trên ngai
Bằng giá nào phải cứu tương lai
Đâu phải đơn thuần chuyện nếm mật nằm gai
“Mười mất một còn”, tỷ số này sai!
Nhưng dù hy sinh thế nào cũng không quản ngại
Non nước này mới thấy được ngày mai
Non nước này trông đợi những tài trai!

Bài 2.

            ChuSa.

Hiện nay ở hải ngoại có nhiều vị “sợ” Cộng sản và hèn nhát đến mức chê những người viết bài tố Cộng sản, mà là dùng lời lẽ thiếu lịch sự và lễ độ với... Cộng sản!. Bọn bồi bút Cộng sản còn cố gắng “chụp mũ” những người viết bài tố Cộng sản là Cộng sản!. 

Những người đã dại dột, lầm lẫn, tin Cộng sản thì cuộc đời phải tiêu tùng là lẽ đương nhiên. Thủ đoạn dùng “thi sĩ” Nguyễn Chí Thiện đưa ra hải ngoại đã khiến cho Cục Phản Gián và đầu não Cộng sản khá “thành công”. 

Nhưng Cộng sản và Tổng Cục Phản Gián Hà Nội không thể thành công trong việc tạo một Nguyễn Chí Thiện trở thành “Lãnh Tụ” của hơn 3 triệu người Việt Nam tị nạn Cộng sản tại hải ngoại, để dễ chơi trò hòa hợp hòa giải bịp, vận động “xin” Cộng sản “ban cho” nhân quyền, dân chủ và ý chúng còn chửi sỏ rằng: Tụi tao cho bọn hải ngoại “chúng mày” hoan hô một tay “Mỹ ký” (false, impostor) cho... vui!”. 

Phải công nhận cái gì thì Cộng sản dốt, chứ cái trò lưu manh bịp bợm thì không ai qua mặt được Cộng sản. Hàng triệu người đã sớm nhìn thấy mặt thật của Cộng sản ngay từ tháng 8/1945, nên đã căm thù Cộng sản tàn phá đất nước và đưa cả nước vào chiến tranh, chết chóc và gông cùm Cộng sản, muốn chiến đấu và chiến thắng tiêu diệt Cộng sản, trước hết ta cần phải sống trước đã. 

Tuy nhiên mỗi người có một nhiệm vụ trước lịch sử, Thi Sĩ Vô Danh đã làm nhiệm vụ lịch sử với ngòi bút và vần thơ của ông, bằng ngòi bút với suy nghĩ đoán trước, biết trước và sự tiên đoán vượt thời gian của Thi Sĩ Vô Danh đã làm cho Cộng sản bị thảm bại ê chề, không thể đánh lừa người Việt và người Mỹ. 

Hoài bão của Thi Sĩ Vô Danh khi làm thơ “tả chân” sự tàn ác Cộng sản, ông muốn phổ biến tập thơ của ông ra thế giới bên ngoài, để cho mọi người đều hiểu Cộng sản là gì và khi mọi người đều hiểu rõ bản chất Cộng sản, thì chúng không còn có thể gạt gẫm hay lừa bịp mọi người được nửa, sự suy nghĩ của ông đã thể hiện trong bài thơ Thế Lực Đỏ như sau :

Thế Lực Đỏ

Thế lực đỏ, phải đồng tâm đập nát
Để nó hoành hành, họa lớn sẽ lan nhanh
Nhưng không thể dùng bom A bom H
Phá nát địa cầu vì một lũ gian manh
Nên phải viết, phải muôn ngàn kẻ viết
Những tội tày đình được bưng bít tinh vi
Nếu nhân loại mọi người đều biết
Cộng sản là gì, tự nó sẽ tan đi
Thứ sinh thành từ ấu trĩ ngu si
Sự hiểu biết sẽ là mồ hủy diệt

          thơ Vô Đề 1973

Theo tài liệu được báo Người Việt cho ra ngày 19/12/1996 trong bài quan điểm: Ngày 2/9/1945 tuyên bố độc lập thì ngày 5/9/1945, Hồ Chí Minh cho Võ Nguyên Giáp, Bộ Trưởng Bộ Nội Vụ, ký sắc lệnh giải tán và cấm hoạt động các đảng quốc gia mạnh nhất lúc đó là Đại Việt Quốc Dân Đảng và Đại Việt Quốc Xã. 

Một sắc lệnh khác cho phép Công an toàn quyền bắt những người mà chế độ thấy là nguy hiểm cho họ. Ngày 12/9/1945, Võ Nguyên Giáp đã lập cơ quan mật vụ có quyền giam giữ những người bất đồng chính kiến. Ngày 22/9/1945, Trần Huy Liệu ra lệnh kiểm duyệt các báo để kiểm soát những tiếng nói độc lập như báo Ngày Nay của Quốc Dân Đảng. 

Chưa đủ, ngày 1/11 năm đó, Trần Huy Liệu đặt các nhà in dưới sự kiểm soát của Bộ Tuyên Truyền, với mục đích ngăn chận việc phổ biến tất cả các ý kiến độc lập... (Người viết xin cảm tạ báo Người Việt đã cho mọi người biết tài liệu “tối mật” nội bộ hiếm có này vì những người chống Cộng “ở bên ngoài” không bao giờ có thể biết.).

Sự khủng bố của Cộng sản và sự kinh hoàng Cộng sản trong nhân dân lan tràn khắp nơi ngay từ cuối năm 1945. Lúc này hầu như mọi lứa tuổi là một cách “hàng ngũ hóa” (regimentation) đầu tiên của Việt Minh Cộng sản. 

Nghĩa là tất cả mọi thành phần xã hội, các lứa tuổi, nam nữ, già trẻ, tôn giáo... đều phải gia nhập tổ chức do cán bộ Việt Minh Cộng sản kết nạp, điều hành, tổ chức, và chỉ huy. Những người từ chối không gia nhập, nhất là thanh niên, đều bị coi như phản động, chống đối, và thường bị bắt đi vào lúc ban đêm và bị thủ tiêu mất tích. Người ta gọi là đi “mò tôm” nạn nhân bị đưa ra bờ sông rồi bị đập bằng búa vào đầu rồi ném xuống sông. 

Mục đích của Cộng sản thả xác chết trôi lềnh bềnh là để khủng bố tinh thần người dân lúc nào cũng nơm nớp lo sợ cho số phận mình và không ai dám chống đối. Tất cả những vùng dọc theo bờ sông như vùng Hà Nội thì bờ sông Hồng hoặc bãi Phúc Xá, vùng Hải Phòng cầu Nệm và sông Nệm biến thành “pháp trường” của Việt Minh Cộng sản. Gia đình của nạn nhân sống trong sự sợ hãi không dám khiếu nại hay kêu ca vì chẳng biết kêu ca với ai?. 

Cán bộ Cộng sản có một khuyết điểm nặng nề là thích nổi danh, nổi tiếng, thích được tiếp rước long trọng như... chính khứa, như anh hùng kíu quốc, trong khi giá trị bản thân chẳng đáng một xu và khi còn ở Hà Nội, Hải Phòng thì Cộng sản coi như đầy tớ bồi bếp... có lẽ vì mặc cảm thua kém tự ti (inferiority Complex) chăng nên những người dốt nát muốn che cái hèn hạ, ti tiện nên phải làm cho mình nổi danh, nổi tiếng theo kiểu “đội lốt”, kiểu “cáo mượn oai hùm”!. 

Cái kim trong bọc sẽ có ngày lòi ra, chính cái tự do ngôn luận, tự do suy nghĩ và tự do dân chủ đã làm cho người hải ngoại cực kỳ thông minh và bén nhạy khi họ “ngửi” thấy cái gì “Cộng sản bần cố nông”, cái gì có vẻ không ổn, không bình thường, và nhất là cái gì có vẻ “trí thức mượn”, có vẻ “kịch cỡm”, có vẻ “bịp bợm”, có vẻ “chồn cáo đội lớp Lý Bạch” có thể “Mỹ ký” và cái gì có vẻ “hoàn toàn” quá mà vẫn ra cái điệu “ta đây” thứ thiệt!

Khi quân đội Pháp nổ súng tại Hà Nội đêm 19/12/1946, thì trong thành phố có khoảng 2 ngàn người gồm toàn thanh niên Hà Nội phần nhiều là thiếu nhi, thanh niên chiến đấu trong sự tuyệt vọng, súng ống, đạn dược đơn sơ và hoàn toàn thiếu thốn, hạn chế. Họ không có kinh nghiệm cũng chưa được huấn luyện quân sự nhất là về đánh cận chiến trong thành phố, tất cả đều tùy cơ ứng biến mà sáng chế ra phương thức chiến đấu. 

Sự can đảm cá nhân để chiến đấu bằng “tay không” chọi lại với những đoàn quân như : đoàn thiết giáp thiện chiến 2ème Division Blindée, do Ðại Tướng Leclerc chỉ huy, một đơn vị đã chiến thắng Đức quốc xã, và là đơn vị đầu tiên được vinh dự giải phóng thủ đô Paris... trung đoàn 11 thuộc địa (11ème RIC -Regiment d'Infanterie Coloniale), trung đoàn Lê Dương (Legion Étrangère). 

Ðoàn thanh niên Hà Nội này chiến đấu vô cùng anh dũng với hùng tâm của giòng máu Lạc Hồng mấy ngàn năm chống xâm lăng, họ không chùn bước và sẵn sàng đương đầu với kẻ thù , họ đục tường xuyên qua các nhà, các phố, chiến đấu với một tinh thần cảm tử, quyết tử, một tinh thần mà sau này đại tá Némo, tư lệnh vùng duyên hải Bắc Việt (commandant, zone maritime du Tonkin), đã phải nói: “Họ chiến đấu dũng cảm và liều mạng như những con sư tử non...”. 

Võ Nguyên Giáp và Việt Minh đứng ngoài hưởng lợi và “không hề” trợ giúp đoàn Tự Vệ Chiến Đấu dũng cảm, sau này được gọi là “Trung Đoàn Thủ Đô”... Nhưng Giáp đểu cán “cướp công” dùng câu chuyện đó làm thành chiến lợi phẩm cho mình, nên thêu dệt bịa đặt thêm Trung Đoàn Thủ Đô để đề cao Việt Minh và dùng đó là công cụ tuyên truyền đẩy mạnh công cuộc động viên toàn miền Bắc kháng chiến chống Pháp. 

Việt Cộng cũng bịa đặt là tướng Vương Thừa Vũ chỉ huy cuộc chiến đấu trong thành phố Hà Nội. Phải đến ngày 17/2/1947 hay sau gần 2 tháng, những người sống sót đã phải rút ra ngoài thành phố vì đã kiệt quệ về lương thực và súng đạn. Số phận những người còn sống này không thể kiểm chứng. Một số gia nhập các đơn vị Việt Minh khác và tiếp tục chiến đấu cho đến chết hoặc cho đến khi chiến thắng Pháp năm 1954 và trở về Hà Nội. Những xác người chết được Pháp gom lại và chôn trong một nấm mồ tập thể rất lớn, gồm hẳn một khúc đường phố cạnh Tòa Án Hà Nội.

Sau đó, Trung Đoàn Thủ Đô được thành hình nhưng có rất ít người từ “thủ đô Hà Nội”, họ hầu hết đều là người Thanh Nghệ Tĩnh, khi về Hà Nội cuối năm 1954, Trung Ðoàn Thủ Đô toàn người nói tiếng trọ trẹ. Đây cũng là một thứ “kiêu binh” mà người Bắc sau này gọi là “lính Tam Phủ” như kiêu binh của chúa Trịnh ngày xưa, trung đoàn trưởng lúc đó là Nguyễn Quốc Trị, người Thanh Hóa. 

Khoảng năm 1950 Nhạc sĩ Phạm Duy đã từ chối thẳng vào mặt “cụ” Hồ là không thèm gia nhập Hội Văn Nghệ, và đã trốn vào thành phố. Đây cũng là cái tát vào mặt Hồ Chí Minh và Việt Minh Cộng sản. Kể từ khi ông Phạm Duy bỏ đi, Hồ và Việt Minh ghét cay ghét đắng dân “Bắc Kỳ” nhất là những người có tài như ông... Trần Dần, Tạ Hữu Thiện, cụ Phan Khôi, và hầu hết các văn nghệ sĩ miền Bắc. 

Lúc đó Văn Nghệ miền Bắc do Tố Hữu và Nguyễn Đình Thi, Xuân Thủy nắm giữ chặt chẽ còn những văn nghệ sĩ như Xuân Diệu, Chế Lan Viên, Hữu Loan, Trần Hoàn, Lưu Hữu Phước (người Nam)... chỉ là những kẻ theo đuôi voi, cầu sống. Những người khác như Nguyễn Tuân, Nguyễn Bính, Quang Dũng, Hoàng Cầm, Phùng Cung, Phùng Quán, Văn Cao... đều phải chịu ép một bề. 

Năm 1955-1956, Hồ Chí Minh làm theo kế hoạch của Tàu là ra lệnh cải cách ruộng đất để “đấu tố” tiêu diệt hầu hết những thành phần khá giả sáng giá có thể trở thành mầm móng chống đối gây bất lợi, nên Hồ gọi là “địa chủ, phú nông, trí thức và giai cấp chỉ huy trong nông thôn như các chánh tổng, lý trưởng, bá hộ...” gọi là “trí, phú, địa, hào”... 

Bất cứ ai nằm trong thành phần này, hoặc chỉ người bình thường, đều có thể bị viện “đội trưởng” đội cải cách chiếu cố “lên list” lên danh sách đấu tố, phải ra đấu trường, và bị đấu tố theo khuôn mẫu “Mao Trạch Đông bên Tầu” rùng rợn, tàn ác, dã man và khủng khiếp chưa từng thấy trong lịch sử Việt Nam. 

Cái dã man nhất của Cộng sản là chúng bắt những người thân trong gia đình phải đấu tố lẫn nhau như: con tố cha, vợ tố chồng, anh tố em…, để tránh bị mang tiếng là “bác Hồ” ra lịnh giết người hàng loạt. 

Sau đây là một câu chuyện thương tâm của người cha bị con gái đấu tố, để công dưỡng dục và chữ hiếu đạo đảo lộn thì người cha phải nhục nhả hạ mình là “con” và phải cung kính gọi con là “ bà”, một cô con gái đã đấu tố cả bố đẻ của mình để lập công “Kách Mạng” với “Bộ Đội Cụ Hồ”, được Thi Sĩ Vô Danh diễn tả qua bài thơ Được Nghe Bà dưới đây :

Được Nghe Bà

Được nghe “bà” kể khổ!
Con thấy đời con thực là đáng chết!
Con đã đi bóc lột để nuôi bà
Con bây giờ không dám nhận là cha
Dù bà là do con đẻ ra
Con, thành phần địa chủ thối tha.
Trước nhân dân, trước Đảng, trước bà
Xin thành khẩn cúi đầu chịu tội!
Đó là lời một cụ đồ ở ngoại thành Hà Nội
Trước đấu trường giăng giối với con

          thơ Vô Đề - 1972

Thi Sĩ Vô Danh quả tài tình, chỉ bằng mấy câu ngắn ngủi mà hàm xúc đầy đủ sự ghê rợn của đấu tố Cộng sản (Cộng sản giết dân bằng cách đấu tố từ năm 1954 – 1956, nhưng mãi đến năm 1972 tác giả mới ghi lại bài thơ này). Nuôi con cũng là “tội” vì phải bóc lột người khác để nuôi con?. 

Trong khi đó, Hồ và Cộng sản giết người, bỏ tù, cướp bóc đủ thứ... thì lại bắt buộc cả nước phải “đời đời nhớ ơn Hồ chủ tịch” để hình Hồ lên bàn thờ thay thế hình ông bà tổ tiên !. Cộng sản Hà Nội áp dụng Mao Ít nhiều hơn Mác Xít Lê Nin Nít, có lẽ vì không thích hợp với hoàn cảnh địa phương (Việt Nam và Trung Cộng). Mác Xít chỉ là lý thuyết suông, chẳng ai thèm học hay áp dụng. 

Khi Ðại tướng Phản Gián Hà Sĩ Phu (Nguyễn Xuân Tụ), Nguyễn Hộ, Hoàng Minh Chính luôn miệng chê bai Mác Xít, thì những tên tay sai Cộng sản này đã lờ tịt vấn đề Lê Nin Nít và hiện nay là Mao Ít đang thật sự “được” áp dụng tại Việt Nam. 

“Ngục sĩ” kiêm chính trị gia phản gián Nguyễn Chí Thiện đừng nên che đậy tội ác của Tàu và nên cho biết ý kiến về kế hoạch và công tác thanh trừng đám Cộng sản Hà Nội do người Tầu Trung Cộng cầm đầu và điều khiển, chúng đã giết hầu hết toàn bộ các tên lãnh đạo Cộng sản gốc người Việt. 

Tội ác của bọn tay sai Cộng sản Tàu này là chúng cố tình lấp liếm sự kiện lãnh đạo Cộng sản Hà Nội đang làm bù nhìn chó săn cho Trung Cộng để đầy ải người dân Việt và đưa dân tộcViệt Nam vào hố thẳm của nô lệ và diệt chủng.

Hiện tại, dân tộc Việt bị hai kẻ Nội thù Việt Cộng và Ngoại xâm Trung Cộng đe dọa diệt chủng, tiêu diệt bằng nhiều hình thức như: đánh phá cho kiệt quệ kinh tế của Việt Nam, chúng dùng “chiến tranh” hóa học tạo ra sâu rầy, châu chấu cắn phá hàng ngàn héc ta ruộng lúa hay các hoa màu khác. Ở những vùng nông thôn họ bỏ hóa chất xuống các sông, rạch, tiêu diệt thuỷ sản như hồ nuôi tôm, nuôi cá và làm ô nhiễm trầm trọng môi sinh các ao hồ, biến thành những hồ nước độc bốc lên những hơi độc, làm hư hại bộ phận hô hấp của dân cư trong vùng. 

Ngoài ra, Tàu thâm độc đem các mặt hàng mã, hàng dỏm được tung sang Việt Nam để diệt nền tiểu công nghệ hay công nghệ sản xuất nội địa và nạn người Tầu in rất nhiều tiền giả tung ra khắp nơi để làm lũng đoạn nền tài chính. 

Còn bọn Nội thù Việt Cộng thì lo chia chát, bán tháo bán đổ các tài nguyên của các quặng mỏ quý và Cổ vật, Văn hóa. Chúng còn tệ hơn thực dân Pháp là đem người dân và trẻ em rao bán nô lệ lao động, nô lệ tình dục ra nước ngoài, ký hợp đồng ma, ép sức lao động nhân công nô lệ bán ra nước ngoài. Hàng trăm ngàn nhân công được gửi đi lao động hải ngoại trong những hoàn cảnh đói khổ thiếu ăn, thiếu mặc để bọn chúng lấy tiền bỏ cho đầy túi tham, chuyển tiền vào các trương mục ngân hàng ‘kín’ cho con cháu, cho giòng họ chúng ra nước ngoài lập nghiệp, chúng đút dấu tiền do chúng cướp được của dân trong mấy chục năm qua. 

Sau này, sau khi Cộng sản bị tiêu diệt, bọn Nguyễn Chí Thiện, và tất cả các tên đầu nảo Cộng sản và bọn tay sai bồi bút nằm vùng hải ngoại như: Nhóm Giao Điểm do Hồng Quang cầm đầu, Mặt Trận Kháng Chiến Hoàng Cơ Minh hiện do hai anh em Hoàng Cơ Định và Hoàng Cơ Quảng cầm đầu… và còn nhiều nhiều tổ chức nửa chưa nêu tên ra đây. Tất cả đáng bị phân xử vào tội “Thập Ác”.

Khi nền văn minh văn hóa nhân loại tiếp tục phát triển, tiến hóa, thì quyền hạn và phẩm chất người Việt Nam bị tước đoạt, con người bị mất quyền thở không khí trong lành, và nơm nớp, thoi thóp sống trong bệnh hoạn tù đày, sống thua cả con vật. 

Hàng triệu người bị Cộng sản bắt đi giam cầm nơi rừng thiêng nước độc lao động cho chết dần chết mòn, cũng chỉ vì họ thấy được dã tâm của bọn đầu nảo Cộng sản. Cảnh tù tội đó được Tác giả Vô Danh ví như sự tiến hóa ‘giât lùi’ của Cộng sản (Cộng Sản - cuộc cách mạng tụt hậu - Huyết Hoa) trở về thời tiền sử như đàn khỉ, đàn vượn trong bài thơ dưới đây :

 Từ vượn lên người

Từ vượn lên người mất mấy triệu năm?
Từ người xuống vượn mất bao nhiêu năm?
Xin mời thế giới tới thăm
Những trại tập trung núi rừng sâu thẳm!
………………………………………

          thơ Vô Đề - 1967

Bài thơ này tả cảnh “sống” trong chế độ Cộng sản: cảnh sống nhục nhằn đau khổ cũng như một người tù, vì dưới chế độ Cộng sản ở tù hay không ở tù nào có khác chi, vì cuộc sống khắp tất cả mọi nơi: ai ai cũng đều là kẻ thù và kẻ tù dưới con mắt bọn Cộng sản.

Không Phải Chết.

Không phải chết, sống mỏi mòn mới khiếp!
Sống niêu cơm, manh áo cũng đọa đày
Sống yên lành, song cũng khó yên thay
Sống lao tù, sống bệnh hoạn lắt lay
Sống đau nhức cả thần kinh bắp thịt
Sống giương mắt đỏ ngầu trong xám xịt
………………………………………

          thơ Vô Đề - 1973

Khi nói về chế độ Cộng sản kềm kẹp dùng Công an trị, để trừng trị người dân nào cứng đầu chống lại chúng, Thi Sĩ Vô Danh đã tả lại bức tranh “tù tội” hay là tranh “sống động” dưới chế độ Cộng sản, ông tả cảnh rất thật, vì hơn ai hết ông đã sống trong địa ngục Cộng sản thật sự, và đã chứng kiến hàng triệu triệu người sống thoi thóp trong cảnh tù đầy đó. 

Trong chế độ Cộng sản chỉ có công an, cán bộ, đảng viên, bộ đội hay là thành phần giai cấp ưu đãi, mới không nếm mùi hay chưa biết thế nào là tù đày. Đọc những bài thơ trong tác phẩm Vô Đề này lên, ta thấy Thi Sĩ Vô Danh quả có tài dùng lời thơ tả lại cảnh Cộng sản tàn bạo, bắt dân chúng bất kể luật pháp hay nhân quyền, dân quyền, coi nhân dân như kẻ thù, khiến người đọc phải thấy rùng mình khiếp sợ.

Đồng Lầy

Người dân đã chán chê với cái trò hề chiến tranh cách mạng!
Cái họ được là khăn tang và nạng!
Cái mất đi: ánh sáng, cuộc đời!
Đảng bắt câm, bắt nói, bắt khóc, bắt cười
bắt đói, bắt làm, hé răng oán thán
Là tù ngục mục xương độc đoán...!
…………………………………………….
Nó lùa, nó thả (Nó đây là Hồ Chí Minh)
lũ mặt người dạ thú xông ra
khiến đồng xa
Nơi mấp mô mồ mả
Các hồn ma cũng hả vong linh
Vì thấy địa ngục của mình
Còn ít nhục hình hơn dương thế!
Mạng sống không bằng con giun con dế
…………………………………………….

          thơ Vô Đề - Đồng Lầy - 1972

Thi Sĩ Vô Danh đã cho chúng ta thấy tất cả mọi thành phần xã hội bị Cộng sản cho đi tù tuốt luốt, đi tù từng xâu, bất cứ lúc nào, và không cần lý do, không có pháp luật xét xử. Những người tù này, “không bao giờ” được nói chuyện với giám đốc Công an Hà Nội, mạn đàm và chụp ảnh mầu với quản giáo trại tại cải tạo, (xin lưu ý là hàng triệu người bị Cộng sản giam cầm về đủ thứ tội mà Cộng sản gán cho họ, chưa có ai được Cộng sản chụp hình “để phô trương” ngay trong lúc bị ở trong tù Cộng sản cả, ngoại trừ những kẻ mang huy chương “bị tù” như: Nguyễn Chí Thiện, Đoàn Viết Hoạt, Hoàng Duy Hùng, Lý Tống và Phạm Văn Thành, điều này xin quí vị cựu quân dân cán chính miền Nam và hàng triệu người dân Việt Nam xác nhận) 

Và điều không tưởng là, hiện tượng được ưu đãi trà cà-phê, thuốc lá do cai tù hay được những kẻ lãnh đạo cao cấp thăm viếng biệt đãi là ngoài sự mơ ước của kẻ tù. Chuyện được đi nhậu nhẹt, tâm sự anh anh, tôi tôi, với ông Viện Trưởng Mác Lê Hoàng Minh Chính tức Trung tướng phản gián Trần Ngọc Nghiêm, một lý thuyết gia Xít Ta Lin Nít sắt máu nhất, trung kiên nhất, cao cấp ngang hàng với Lê Duẩn, Lê Đức Thọ... chỉ có ông Nguyễn Chí Thiện đặt biệt được hưởng quy chế đó và đã từng khoe tại Hoa Kỳ. 

Người tù dưới chế độ Cộng sản dĩ nhiên chỉ nhìn thấy tù tội, đói rét, khổ sở, hành hạ, và cái chết chờ đợi mọi người tù. Ông Nguyễn Chí Thiện, có lẽ không hiểu thế nào là tù đày “thật sự”, nên chỉ thản nhiên phàn nàn rằng Cộng sản không cho tù nhân giấy... vệ sinh (toilet paper) và thiếu băng vệ sinh (maxipads) cho nữ tù nhân khiến cho họ hôi hám bẩn thỉu không vừa cái lỗ mũi của ông khi họ đi ngang qua mặt ông và ông tù nhân Nguyễn Chí Thiện đã lấy “lấy mùi soa lau vầng trán”. (Với những thành tích nói chuyện “anh anh tôi tôi” với Cộng sản cỡ gộc, ngang với Lê Duẫn hay có thể thay thế Lê Duẫn làm Tổng Bí Thư. Xít Ta Lin Nít Thượng tướng Trần Ngọc Nghiêm tức Hoàng Minh Chính, “giả thử” ông Thiện là cán bộ thì ít lắm vai vế cũng phải ngang hàng cấp tướng). 

Ta hãy coi ông Thiện làm.... (“thơ”?) tả cảnh tù Cộng sản “chỉ khổ” vì thiếu giấy vệ sinh (tại Washington D.C. đầu tháng 11/1995), và ông “thi sĩ” Thiện cũng bắt chước nhái theo: Những Ghi Chép Vụn Vặt, kiểu bần cố nông.

Những Ghi Chép Vụn Vặt (HGCVV)

Ở, Hỏa Lò, giấy vệ sinh khó có
Nhiều người không dùng, như trâu, như chó.
Phải có quà, có ngoại giao, mới có thể mong xoay
Xoay nó còn khó hơn xoay vé máy bay!

          thơ Nguyễn Chí Thiện - Hạt Máu Thơ - (NGCVV # 7).

Người viết bài này chắc chắn rằng ông Thiện chưa ở “tù” bao giờ, tuy rằng ông Thiện có dịp đến các trại tù “tham quan”, để có “kinh nghiệm tù” mang ra hải ngoại đóng vai tù nhân nhiều năm để dể nói phét về chuyện.... tù!. 

Đọc “thơ tù” của ông Vô Danh, ta thấy người tù thật “không bao giờ” lo vấn đề giấy vệ sinh hay băng vệ sinh. Những người bị Cộng sản cầm tù “sống dở chết dở” trong sự đọa đày, cực khổ, đói rét, bệnh tật tối đa..., “lo” đủ thứ trong hy vọng hão huyền, vì “không có gì cả”!. Chỉ thấy đen tối và tương lai mù mịt đầy cực khổ, chết chóc, ai dám nghĩ tới vé máy bay mà ví với von như ông Nguyễn Chí Thiện?, hơn nửa dân miền Bắc từ 1945 cho đến 1975 trong 30 năm đó thì người dân làm gì có thể biết máy bay, chỉ có Công an cao cấp có dịp được đi công tác sang Nga hay đi Tầu như ông Thiện?, thì mới biết vé máy bay, mà nếu có máy bay đi chăng nửa thì, chỉ có cán bộ Cộng sản mới được hưởng “tiểu táo” đó mà thôi. 

Người tù không thể kêu ai vì chính Nhà Nước là quân Nội xâm cai trị bạo tàn. Người tù biết không bao giờ được “thả”?, không biết gia đình con cái trẻ nhỏ ở nhà ra sao?. Không biết chiều nay, hay ngày mai khẩu phần có bị cắt không?, mà được ăn cái gì?, hay chỉ có khoai hà, sắn mốc hay ngô cứng như đá là may, mong gì đến cơm? cọng rau, hạt muối còn thiếu thốn. 

Có lẽ trong bụng người tù nào cũng tóp lại vì quá đói, đói mờ con mắt trong cái đói thường xuyên, nên không ai lo “giấy vệ sinh” mà chỉ lo ăn!, vì có cái gì trong bụng đâu mà lo tống ra?, người tù trong chế độ Cộng sản đói đến vàng mắt, đói mờ người, đói bải hoải chân tay mà vẫn bị đốc thúc lê lết đi làm việc cực nhọc. Chậm chạp là bị cùm, bị xích, bị đánh bằng báng súng của bọn Công an cai tù, chúng đánh để làm cho tinh thần lẫn thân xác đau đớn ê chề hơn nữa. 

Người tù trong chế độ Cộng sản chỉ mong có cái gì nhét vào mồm, dù chỉ là khoai sắn, hơn là “lo” tống xuất ra ngoài, vì bụng rỗng, lép xẹp, có cái gì đâu mà phải tống xuất?, nếu không có ăn, bụng trống rỗng, thì cần gì đến vệ sinh mà phải “chạy chọt” với Công an như Nguyễn Chí Thiện?.

Ngoài cái đói, còn có cái rét. Khi đói, thiếu ăn, thiếu mặc, quần áo, chăn mền không có, thì không mấy người chịu nổi cái rét lạnh ghê người ở miền Bắc, bị ho lao, lao ra máu là do thiếu ăn và rét lạnh. 

Mỗi người tù đều bị hành hạ bằng đủ thứ bệnh và sự thiếu thốn đủ thứ, bệnh tật không bao giờ có thuốc, tù nhân phải được gọi là “tù bệnh, tù đói” mới đúng. Họ quằn quại, mòn mỏi trong nhiều tháng nhiều năm, cái chết thường đến chậm chạp, khắc khoải trong hao mòn kéo dài sự đau khổ lâu hơn nữa. 

Những người tù bệnh thường không thể chết nhanh chóng dễ dàng vì họ còn nhiều sự lo lắng cho gia đình, nhiều kỷ niệm, nhiều vấn đề chưa giải quyết, sự thương nhớ gia đình con cái, sự mong mỏi đoàn tụ, nhất là niềm hy vọng và cố gắng níu từng hơi thở rán “sống” để có thể một ngày nào đó trở về... tất cả những suy tưởng này đã kéo dài sự ham sống của họ. 

Ở trong tù Cộng sản nếu bọn Công an biết tù có tiền thì nó hành cho đến mức phải “cúng” hết cho nó, chứ làm gì còn mà nhờ công an mua dùm giấy vệ sinh?. Giả thử họ có hôi hám bẩn thỉu vì không được tắm, không có xà phòng hay băng vệ sinh thì họ cũng là những hình ảnh nhầy nhụa tanh hôi gợi lại cái tính thú vật say mồi đáng thích thú cho Công an, cho quản giáo hả hê thỏa mãn. Còn người tù trong rọ Cộng sản thì việc gì họ phải sợ bị ai cười chê là dơ bẩn hôi hám? 

Có lẽ khi những phụ nữ tù nhân gặp ông Thiện trong trường hợp ông tham quan, dò xét hay thanh tra như tư cách Công an thanh tra, mặc complet trắng tinh, nên ông Thiện đã không quên cái mùi xú uế của họ dù mũi ông được ông dùng mù xoa bịt lại. Ông Thiện nghĩ rằng vì họ không có băng vệ sinh nên mới hôi hám như vậy.

Trong tất cả chúng ta nếu ai muốn tìm hiểu sự thật về “con người rất thật của Nguyễn Chí Thiện”, xin hãy bình tâm đọc kỹ hay ngâm những bài thơ trong tập thơ Vô Đề, để so sánh những ngôn từ đểu cáng được gọi là “Thơ” của ông Nguyễn Chí Thiện trong quyển Hạt Máu Thơ, với những bài thơ “giấy vệ sinh” để xem bài nào là thơ, và bài nào chỉ là ghép chữ vớ vẩn kiểu nhà quê bần cố nông, ngu dốt của một bọn vô liêm sĩ, chỉ biết sống trên nỗi thống khổ của chính dân mình. 

Hiện tại vậy mà cũng còn nhiều người nhiều hội đoàn chưa tỉnh ngộ để nhìn ra bộ mặt đểu cáng lưu manh của tập đoàn Cộng sản Hà Nội trong đó có tên Công an Nguyễn Chí Thiện. Nói tóm lại, người bị Cộng sản cầm tù không án tù, không thời hạn, không tội lỗi, chỉ thấy căm hờn chất chứa, hận thù thiên thu... họ nghĩ cách ra khỏi tù, nghĩ cách chạy trốn hay tiêu diệt Cộng sản... chứ ai hơi đâu mà lạy van chạy chọt công an để có giấy vệ sinh hay băng vệ sinh?. 

Miền Bắc trước kia và bây giờ, hầu hết người dân đều không có giấy vệ sinh hay băng vệ sinh, thì làm sao Công an có để bán hay cho?. Có lẽ nhiều cô gái miền Bắc chẳng bao giờ được “thấy” cái băng vệ sinh văn minh nó ra sao. Mà trong tù thì “tiền đâu” mà chạy chọt công an để kiếm giấy vệ sinh?. Nếu có tiền cụ “Hồ” thì để mua cái gì ăn. Nếu dư tiền cụ “Hồ” thì nên dùng thay giấy vệ sinh có lẽ tiện hơn?. Nhiều phụ nữ vào tù với con nhỏ đang bú, vì đói nên kiệt sữa, đã phải nhìn đứa con đói lả chết trên tay, còn bụng dạ nào lo đến băng vệ sinh hay sự hôi hám bẩn thỉu?, (đây là sự thật cuộc sống của người dân dưới hầu hết các chế độ Cộng sản).

Tối ngày 14/11/1996, cộng đồng người Việt Tự Do bang NSW (Brisbane, Úc Châu) lại được hân hạnh tiếp đón nhà thơ Nguyễn Chí Thiện và giáo sư Nguyễn Ngọc Bích trở lại thành phố Sidney. Khoảng 600 người đã đến tham dự đêm tâm tình với “ngục sĩ” Nguyễn Chí Thiện... 

Phần nói chuyện của “nhà thơ” Nguyễn Chí Thiện vẫn được những tràng vỗ tay nồng nhiệt của quan khách đến tham dự ông Thiện nói như sau: (Nói đến vấn đề “hòa hợp hòa giải” ông Thiện cho là, một bên là khối dân tộc bị áp bức một bên là thiểu số bạo quyền thống trị và chúng ta chỉ nên nói Hòa Hợp Hòa Giải), ông Thiện (cũng đã “vạch trần” những chuyện mà ai cũng biết), bản chất đại gian đại ác của lãnh đạo Cộng sản Việt Nam, “với những xảo thuật lừa bịp vô cùng tinh vi và dã man, chỉ nhằm mục tiêu duy nhất là chiếm đoạt quyền lực và bảo vệ quyền lực bất kể đạo lý tối thiểu của con người.”. 

Ông Thiện kể cảnh cơ hàn, khốn khổ trong tù, nhất là người phụ nữ, “chúng không màng gì đến vệ sinh tối thiểu của người phụ nữ đến nỗi những “nàng Kiều thời đại” bị tù đi ngang qua là sặc mùi hôi thối.” Còn thân phận các em thiếu nhi sinh ra và lớn lên trong các gia đình thiếu ăn, đã phải đi vào con đường trộm cắp thì bị chúng đánh đập và hành hạ một cách tàn nhẫn thô bạo, đến nỗi ngày nào vào tù ông Thiện cũng thấy mang xác đi chôn với vẻ mặt thản nhiên của cán bộ trại giam. 

Ông nói: “Bởi vì lớp tù này chết đi thì đã có lớp khác đến thế”. (Có lẽ vì chủ quan hay là quen thói “độc tôn” của cán bộ Công an cấp cao nên trong một dịp diễn thuyết tại San José giữa tháng 12/1995, ông Thiện đã phát biểu về miền Trung một câu mà những người xứ Huế, miền Trung cho đến nay có lẽ chưa quên. 

Khi nói về miền Trung, xứ Huế, ông Thiện “phang” một câu rất “chữ nghĩa, điển tích” kiểu xỏ lá... “sơn bất cao, thủy bất thâm, nam đa trá, nữ đa dâm!”. Người viết xin cáo lỗi với quí vị người miền Trung xứ Huế vì bài viết cần phải nêu ra những chi tiết và ngôn từ của con người thật mang danh “ngục sĩ” Nguyễn Chí Thiện). Ông Thiện cũng làm thơ mỉa mai những người nữ tù nhân là dơ dáy, hôi hám, cũng hút thuốc lào như lưu manh, bài thơ những nàng Kiều như sau :

Những nàng Kiều

Cộng sản kết tội phong kiến và xót thương
Nàng Kiều ngày xưa trong văn chương!
Còn những nàng Kiều ngày nay trong Hỏa Lò, ai thương?
Ghẻ lở đầy, gầy giơ xương
Vét ăn từ hạt cơm dưới rãnh
Cũng cùm kẹp, đòn đánh
Cũng lén hút thuốc lào như những ông mãnh lưu manh
Gót sen lướt qua là sặc mùi tanh!

thơ Nguyễn Chí Thiện - 1983 - trg.36, Hạt Máu Thơ.

Đọc những lời viết trong Hạt Máu Thơ ta thấy ông Nguyễn Chí Thiện phải là một Công an trại tù, chứ ông Thiện không phải đồng cảnh ngộ “tù” như những người nữ tù, mà ông gọi một cách rất ư Công an là những “nàng Kiều thời đại”. 

Ông Thiện khinh bỉ họ vét ăn từng hạt cơm dưới rãnh, lén lút hút thuốc lào như lũ lưu manh bạn tù của các cô này, và mỗi lần họ đi qua mặt ông “quản giáo hay thanh tra” Thiện là sặc mùi tanh tưởi vì không biết dùng và không có băng vệ sinh. Dưới mắt ông Thiện (hay Công an) thì người tù nào cũng chỉ là lưu manh, phản động, bất mãn “dám” chống, dám chửi chế độ!. Cái mùi hôi hám này ám ảnh (đồng chí Công an phản gián đi tham quan để hiểu biết về nhà tù cho dễ nói chuyện sau này) Nguyễn Chí Thiện đến mức 13 năm sau, khi tới Sidney, ông vẫn chưa quên và phải nói lên cho cử tọa (nam nữ Việt kiều Sidney) cùng thưởng thức!. 

“Thơ ông Thiện” hoàn toàn khác với Thi Sĩ Vô danh, Thi Sĩ Vô Danh không bao giờ gọi người nữ tù, hay những người tù trong nhà giam Việt Cộng là ‘lưu manh ‘, Thi Sĩ Vô Danh cảm thương hàng triệu nạn nhân tù tội, khốn khổ, những người trong cảnh ngộ đau thương, ông chia xẻ với họ nỗi oan trái của cảnh đời tù tội, ông đem tất cả tình cảm chân thật để chan hòa với cuộc đời rách nát, của những cô gái bất hạnh sống đời tù nhân trong xã hội Cộng sản. (ngược lại ông Thiện gọi những những nữ tù nhân một cách khá “Công an” là những “nàng Kiều thời đại”!, và khinh miệt họ là những kẻ thối tha, lưu manh, nhưng ông Thiện có hiểu rằng đó là hậu quả của việc trồng người, do đảng Cộng sản dìu dắt lãnh đạo).

Bài thơ dưới đây tác giả Vô Danh viết lại cảnh hàng ngàn em bé tí, cũng có cùng chung số phận tù tội dưới chế độ Cộng sản, bài thơ này đã làm cho kẻ viết bài này nhiều lần rơi lệ khi đọc, rơi lệ không phải vì hèn, nhưng rơi lệ vì xót xa nhìn thấy cảnh thương tâm, rơi lệ vì thân phận nghiệt ngã của các em bé tí, đã trót sinh ra làm kiếp con người Việt Nam trong xã hội nô lệ Cộng sản. 

Các em có tội tình gì?. Thế giới ơi!, thế giới chỉ nói đến nhân quyền, tự do tôn giáo. Thế giới ơi!, thế giới chỉ lo cho Đạo Pháp và Tôn Giáo bị đàn áp nặng nề… cho nên thế giới ơi!, thế giới chỉ bận nói đến đạo đức?, thương yêu, bận nói đến cảnh công bằng giữa người và người?, cho nên thế giới không bận tâm để mắt đến những đứa bé còi cọt như ngọn cỏ úa, chỉ mới tám tuổi cũng đã nếm mùi tù tội đói khổ, xin quí đọc giả bỏ ra chỉ một giây để suy nghĩ về bài thơ dưới đây (chỉ một giây thôi).

Một Tay Em Trổ (Xâm).

Một tay em trổ: đời xua đuổi
Một tay em trổ: hận vô bờ
Thế giới ơi, người có thể ngờ
Đó là một tù nhân tám tuổi!
Trên bước đường “tù”* tôi rong ruổi
Tôi gặp hàng ngàn em bé như em!

          thơ Vô Đề - 1971

Sống trong chế độ Cộng sản ta chỉ thấy toàn đau khổ và tù tội, tù nhân từ những em bé tí như tác giả mô tả trong bài thơ Một Tay Em Trổ ở trên, có những người mẹ nào khi đọc những vần thơ này mà không rơi lệ?, khi tưởng tới trong các trại tù Cộng sản với những em bé mà đáng lẽ ra trong tâm hồn các em trong trắng, ngây thơ như những trang giấy trắng, những người già cả tật nguyền ăn mày, ăn xin, Cộng sản gọi họ là những kẻ “ăn bám” xã hội chủ nghĩa, cho nên họ rất đáng bị tù và phải tù cho đến chết, (trong chế độ Cộng sản ăn mày, ăn xin cũng là một trọng tội) nhốt họ vào tù thì họ cũng có thể làm ra của cải để nuôi đảng lợi hơn. 

Đọc bài thơ dưới đây của Thi Sĩ Vô Danh tả cảnh người con gái “đĩ” ở trong cảnh đói khổ cùng cực ở Hà Nội, đời sống người phụ nữ không được bảo vệ, nên họ chỉ còn cứu cánh duy nhất là làm “đĩ” để kiếm sống, mà ông Thi Sĩ Vô Danh nhìn vào hoàn cảnh của người phụ nữ, ông vẫn coi những người con gái này là bạn, và đối xử với họ tình cảm thật chan hòa và không có gì phải khinh bỉ họ cả. 

Trước một cảnh tang thương khắp nẻo đường quê hương, những người dân vô tội từ người già, người tàn tật, đến phụ nữ, trẻ em là những xót xa của dân tộc đang quằn quại đau thương tựa nơi địa ngục a tì, được chính quyền Cộng sản triệt để áp đặt trên quê hương :

Tôi Là Bạn

Tôi là bạn của cô gái đĩ
Ế khách ngồi ngủ gật ở vườn hoa
Tôi chẳng có gì an ủi cô ta
Ngoài tình cảm chan hòa và không khinh bỉ
Tôi là anh của những em nhỏ tí
Xó chợ đầu đường, ăn cắp vặt nuôi thân
Bé tí hon mà tù tội bao lần
Miệng tục tĩu, hồn như trang giấy trắng!
Tôi là con lão ăn mày cay đắng
Không gia đình, tàn phế, lất lây
Mời lão sơi một bửa rượu thực say
Nghe lão khóc kể những ngày xa cũ
……………………………………
……………………………………

          Thơ - Vô Đề - 1967 

Đã chín năm qua Nguyễn Chí Thiện người tự nhận là tác giả tập thơ Vô Đề, Thiện đã không chứng minh được mình là tác giả của tập thơ, Thiện chỉ nói quanh co để khoả lấp và tránh né các cuộc chất vấn của mọi người, khi họ hỏi Thiện về nội dung tập thơ mang một ý nghĩa gì, xa hơn việc chửi suông Cộng sản, vì có chửi chúng 100 năm nửa thì chúng cũng đâu có chết, chỉ có súng đạn và bạo lực thì Cộng sản mới chịu thua và chịu chết?. 

Nguyễn Chí Thiện không thể chứng minh được sự hiểu biết dù là tối thiểu của mình, cũng như những ẩn ý đã được diễn tả qua các bài thơ trong tập thơ Vô Đề, một sự thật khác nửa khi Nguyễn Chí Thiện đã cho in ra tập Hạt Máu Thơ vào năm 1996, một loại thơ con cóc do Thiện tự chế và nhái theo tập thơ Vô Đề, sau khi Thiện được Cộng sản Hà Nội dàn dựng cho ra hải ngoại. 

Trong một bài thơ dưới đây của Thi Sĩ Vô Danh, tác giả nói về một người “thân” quen ở thế hệ của ông đã ngốc và tin Cộng sản, và khi đã hiểu Cộng sản là gì, thì người bạn “thân” đó đã quay trở lại, đã than oán với tác giả cái lầm đó như sau :

Mỗi Lầm Lỡ

……………………………
……………………………
Cuộc đời tôi có nhiều lầm lẫn
Lầm nơi, lầm lúc, lầm người
Nhưng cái lầm to uổng phí cả đời
Là đã ngốc nghe và tin theo Cộng sản!

                   thơ Vô Đề - 1963

Đọc lời thơ trên ai cũng biết tác giả đã đã thương và tiếc cho người bạn rất “thân” của ông, vì không nghe lời khuyên của ông nên đã lầm và tin theo Cộng sản, cho nên ông viết ra thơ để khuyên răn và cảnh cáo mọi người đừng lầm lẫn tin theo Cộng sản nửa. Bọn Cộng sản và Nguyễn Chí Thiện vì u mê nên tưởng rằng: tác giả đã nói về chính mình.

Ngày chủ nhật 8 tháng 2 năm 2004, lúc 1:42 chiều, trong cuộc hợp báo gây quỹ cho ông Nguyễn Hữu Luyện về vụ kiện JWC tại trụ sở Hội Cựu Tù Nhân Chính Trị Cộng đồng Việt Nam, thủ phủ Sacramento thuộc tiểu bang California, Hoa Kỳ, địa chỉ số 6201 Lemon Hill với sự có mặt của Nguyễn Chí Thiện. 

Trước hội trường trụ sở Hội Cựu Tù Nhân Chính Trị, cùng đi với Nguyễn Chí Thiện một người tự giới thiệu là một Đảng Viên Cộng sản đã phản tỉnh tên Tâm. Một số người đã chất vấn Thiện về tập thơ Vô Đề mà Thiện tự nhận là của mình, một người cháu của nhà cách mạng Nguyễn Thế Truyền tên là Nguyễn Thế T… đã hỏi Nguyễn Chí Thiện như sau :

Chất vấn Nguyễn Chí Thiện lần thứ nhất

Hỏi: Có phải ông là Nguyễn Chí Thiện
Nguyễn Chí Thiện trả lời: vâng, vâng tôi là Nguyễn Chí Thiện.
Hỏi: Vẻ mặt của ông xem ra sắc sống (sức sống) không còn, tôi xin tặng cho ông hai câu thơ .
Trong vườn sống ước mơ là trái cấm
Rắn sa tăng hối cải hóa thiên thần
Nguyễn Chí Thiện trả lời: Ấy, ấy đó là thơ của tôi
Hỏi: biết, tôi biết .... vậy, xin ông cho biết trong trường hợp nào ông đặt ra mấy câu thơ đó.
Nguyễn Chí Thiện trả lời: Ô!, số là lúc tôi ở trại Thanh Liệt ấy mà, vì nhớ đến Thánh Kinh nên tôi cảm hứng đặt ra ấy mà, thôi, tôi phải bận nhé, chào ông

          Cùng ngày, chất vấn Nguyễn Chí Thiện lần thứ hai

Hỏi: Ông Thiện nói rằng: tập thơ Vô Đề (Hoa Địa Ngục) là của ông, vậy xin ông cho chúng tôi biết hình dáng và cách đóng tập thơ đó ra sao, loại giấy của tập thơ là loại giấy gì, nếu ông là tác giả thì trong đó ông viết những gì?, và trong tập thơ mang Tư Tưởng gì?.
Nguyễn Chí Thiện trả lời: Trong tập thơ không có mang tư tưởng gì hết, vì tôi làm sao có tư tưởng, tập thơ chính hiện tôi đang giữ ấy mà, không ai có hết ngoài tôi, còn hình dáng tập thơ, thì mai mốt Toà Đại Sứ Anh họ sẽ tiết lộ ấy mà.
Hỏi: Ông có nghĩ rằng: Chúng tôi sẽ yêu cầu Tòa Đại Sứ Anh bạch hóa ra tập thô Vô Đề không.
Nguyễn Chí Thiện trả lời: Làm sao họ dám đưa ra, vì tôi yêu cầu mà họ còn nói không biết ấy mà, thì làm sao họ bạch hóa cho các anh, xin lỗi anh tôi bận phải vào hội trường ấy nhé.
Tên Tâm đi cùng với Nguyễn Chí Thiện Hỏi: Xin lỗi anh cho tôi biết tên?
Nguyễn Chí Thiện trả lời: Nó không dám cho tên nó đâu… khỏi … thôi đi.

- - - - - - - -