"Sống tưởng công danh không tưởng nước Sống lo phú quí chẳng lo đời Sống mà như thế đừng nên sống Sống tủi làm chi đứng chật trời."
Thứ Bảy, 20 tháng 8, 2016
Thứ Bảy, 30 tháng 4, 2016
Thứ Bảy, 7 tháng 11, 2015
Thứ Tư, 21 tháng 10, 2015
Chủ Nhật, 11 tháng 10, 2015
Trung cộng lấy đâu ra cát để xây dựng các công trình trên Bãi cạn ở Trường Sa và Hoàng Sa?
Trung cộng lấy đâu ra cát để xây dựng các công trình trên Bãi cạn ở Trường Sa và Hoàng Sa?
Thực
ra thì chuyện ở Cam Ranh vừa qua cũng không có gì đáng để bàn nếu như
nó không ảnh hưởng trực tiếp đến bát cháo của người dân. Và vụ việc cũng
khơi mào cho lòng phẫn nộ của quần chúng nhân dân. (họ chỉ đấu tranh
khi bát cơm của họ bị cướp mất)
–
Không biết đã có ai tự hỏi là Hải quân vùng 4 cho tầu Trung Quốc vào
hút cát , và hút cát để làm gì và mang đi đâu không? Tiện đây thì Thớt
cũng xin trả lời rằng, Cát được hút từ Vịnh Cam Ranh đê cho hai xà lan
cỡ lớn chở ra Đảo Hoàng Sa và Trường Sa.
Vậy
ai là người tiếp tay cho việc này? trung cộng đã và đang dùng chính
nguồn cát hút được tại Cam Ranh để bồi đắp trên bãi cạn của Hoàng Sa và
Trường Sa, Đảo Gạc Ma nơi mà 84 Liệt sỹ đã Anh dũng ngã xuống để bảo vệ,
thì ngay nay Đảng Việt gian Cộng Sản đã chính thức tiếp tay cho sự bành trướng
của Trung cộng.
Sự
thật luôn là sự thật, vì vậy tôi nghĩ chúng ta có biểu tình hay đấu
tranh đê đòi lại Trường Sa và Hoàng Sa cũng chỉ la vô ích vì sự thật
Đảng Việt gian Cộng Sản đã giao Hoàng Sa và Trường Sa cho Trung quốc, và
đang ngày đêm giúp sức để Trung cộng hoàn thành quá trình xây dựng.
Nói
đến xây dựng, người ta nghĩ ngay ”Cát” là nguyên liệu chính và cát hút
từ biển lên thì không thể dùng trong xây dựng vì có muối biển…Vậy thì,
để xây dựng các đường băng, các công trình khác Trung quốc dùng cát ở
đâu? Chuyên chở từ đảo Hải nam ra ư?
Điều
này là khó có thể vì lẽ: Khoảng cách từ đảo Hải Nam ra Trường sa là 585
hải lý, vả lại chuyên chở cát trên những xà lan để ra Trường sa khó bảo
quản vì sóng to gió lớn, bão v.v…
Cam
ranh-Khánh hòa là nơi lý tưởng để đưa cát ra cho TQ xây dựng với khoảng
cách chỉ 248 hải lý trong vùng biển tương đối êm, đẹp ít có sóng bão…
Đã
từ lâu VGCS đã ngầm khuyến khích hoặc đã đứng đàng sau vụ việc
này. Hải quân vùng 4, viện lý do nạo vét dòng sông cho mục tiêu quốc
phòng, họ đã đưa cát ra Trường sa cho bọn TQ xây dựng ngụy trang dưới
những chiếc tàu đánh cá ở khu vực Trường sa. Tôi đã từng nói chuyện với
một người có em trai hiện đang là Hải quân vùng 4: ”Ôi, sự việc này xảy
ra bao lâu nay rồi, đâu phải giờ mới biết!”.
Giờ
thì đã rõ: Việt gian Cộng sản đã có âm mưu dâng biển đảo cho giặc, một
mặt thì phản đối TQ xây dựng ở Trường sa cho người dân yên lòng, mặt
khác thì khuyến khích, làm ngơ cho mang cát ra để bọn giặc xây dựng trên
chính biển đảo của mình.
Tập
Cân Bình – TBT Trung quốc vừa qua đã phát biểu trước quốc tế rằng:
Hoàng sa, Trường sa là lãnh thổ lâu đời, không thể bàn cãi của Trung
quốc, trong khi ấy, Việt Nam, không dám có một tuyên bố mạnh mẽ nói lên
chủ quyền lãnh thổ của dân tộc mình hoặc đưa đơn kiện lên Tòa án quốc tế
như Phillipines đã làm… Vậy thì ĐVGCS, hãy trả lời cho toàn thể
Nhân dân Việt nam được biết: Phải chăng chính Chúng mày đã cam tâm tình
nguyện dâng biển đảo cho giặc? Đừng mỵ dân bằng những ngôn từ ”Mọi việc
đã có Đảng, Nhà nước lo”…
-----------
– Ảnh chụp các tầu khai thác và xà lan chở cát ra đảo Gạc Ma.Thứ Sáu, 31 tháng 7, 2015
Thứ Ba, 9 tháng 6, 2015
Thứ Bảy, 6 tháng 6, 2015
Theo Tầu là lẽ sống của đảng Cộng sản Việt Nam
Theo Tầu là lẽ sống của đảng Cộng sản Việt Nam
Và cũng đừng mong chúng tự thay đổi như cách trình bày của Luật sư Nguyễn Văn Đài khi gặp ông Tom Malinowski – Trợ lý Ngoại trưởng Hoa Kỳ về Dân chủ, Nhân quyền và Lao động và cũng là Trưởng đoàn Đối thoại Nhân quyền Hoa Kỳ. Theo nội dung bài viết thì Luật sư Đài đã nói: “LS Nguyễn Văn Đài thay mặt Hội AEDC trình bày về việc thay đổi phương thức đấu tranh của hội từ đối đầu sang đối thoại với an ninh cấp cao và nhận được phản hồi rằng thay đổi tại Việt Nam sẽ đến từ từ nếu các tổ chức XHDS đủ mạnh. Bên cạnh đó LS Đài cũng nêu ý kiến về vấn đề tài chính để Hội AEDC có thể hoạt động hiệu quả hơn.”.
Câu chuyện từ Quá khứ
Theo trang tin tức của Trung Cộng “world.huanqiu.com“ thì Nguyễn Chí Vịnh đã không ngại tuyên bố rằng: “Việt Nam đã quyết định tham gia vào các hoạt động gìn giữ hòa bình Quốc tế, đã đề nghị Trung Quốc đến Việt Nam để tham gia vào các hoạt động gìn giữ hòa bình và giúp đỡ”. Thế nào là cái gọi “ Đề nghị Trung Quốc vào Việt nam tham gia gìn giữ hòa bình”? Đó chính là một tuyên bố chuẩn bị cho bước tiếp theo là: Rươcs voi về giày mả tổ của cộng sản Việt Nam!
Thậm chí Báo chí Bắc Kinh còn loan tải. “Chiến tranh ngoại giao Trung Quốc thắng lớn, chưa từng có trong lịch sử Trung Quốc”, “Đã thu phục một chư hầu đời nay chỉ cần 10 văn kiện hợp tác toàn diện” .
Nguồn: Tân Hoa Xã.
Rõ ràng, từ lâu chúng ta thấy bán nước là chủ trương của cộng sản Việt Nam. Nhưng vấn đề là nó xuất phát từ đâu?. Hãy quan sát để thấy được nguồn gốc xuất phát của nó.
Như chúng ta đã biết công hàm 1958 của Phạm Văn Đồng là bề ngoài của vấn đề, nhưng có một thỏa ước khác của Hồ Chí Minh với Trung cộng mà chúng ta gần như không được biết đến từ năm 1953. Năm 1953 chính Hồ đã ký giao ước gửi Việt Nam cho Tàu. Giao ước của Hồ là lúc đó hồ chấp nhận Việt Nam là 1 quân khu ngang hàng với Quảng Châu. Thực chất là Hồ đã đích thân ký thỏa thuận giao Việt Nam dần dần bắt đầu từ HS-TS sau đó cả VN làm một bang của Trung cộng như dạng các nước nhỏ dưới thời Xô Viết nếu chiếm được toàn Việt Nam nhờ Trung cộng viện trợ quân, vũ khí… Thỏa thuận này ký năm 1953 tại Quảng Tây. Không ngạc nhiên sau đó 1958 thì giao HS-TS bằng công hàm PVĐ và tiếp sau…
Giao ước có tên “Ghi nhớ hợp tác Việt Trung” – số hiệu (VT/GU- 0212) ký ngày 12/06/1953 tại Quảng Tây “ giữa Hồ và Mao như sau:
“ Trước tình hình quân đội thực dân Pháp đang củng cố xâm lược Việt Nam. Đảng cộng sản nước cộng hòa nhân dân Trung Hoa và đảng Lao động Việt Nam dân chủ cộng hòa nhận thấy cần có sự tương trợ và giúp đỡ lẫn nhau để giữ tình đoàn kết hai đảng, chính phủ và nhân dân hai nước như sau:
Điều 1: Chính phủ Trung Quốc sẽ đồng ý viện trợ vũ khí theo yêu cầu chi viện của quân đội nhân dân Việt Nam. Ngoài ra sẽ gửi các cố vấn, chuyên gia quân sự để giúp đỡ quân đội nhân dân Việt Nam.
Điều 2: Đảng Lao động do đồng chí Hồ Chí Minh lãnh đạo đồng ý sáp nhập đảng Lao Động Việt Nam là một bộ phận của đảng cộng sản Trung Quốc.
Điều 3: Hai bên thống nhất Việt Nam dân chủ cộng hòa là một bộ phận của cộng hòa nhân dân Trung Hoa với quy chế của một liên ban theo mô hình các quốc gia nằm trong Liên Bang Xô Viết ( Phụ lục đính kèm).
Điều 4: Trước đảng và chính phủ hai nước cần tập chung đánh đuổi thực dân Pháp và giành lại chủ quyền lãnh thổ cho Việt Nam. Các bước tiếp theo của việc sáp nhập sẽ được chính thực thực thi kể từ ngày hôm nay 12/06/1953.
Điều 5: Chính phủ cộng hòa nhân dân Trung Hoa đồng ý cung cấp viện trợ kinh tế cho chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hòa theo thỏa thuận đã bàn giữa chủ tịch Mao Trạch Đông và chủ tich Hồ Chí Minh (Phụ lục đính kèm).
….
Ký tên: Hồ Chí Minh và Mao Trạch Đông “
Vì một số lý do an ninh, người viết đã không in được bản in của thỏa ước tối mật bán nước của Hồ cho Trung cộng khi còn ở Việt Nam mà chỉ là phần ghi lại nội dung chính của bản thỏa ước đó. Bản in này sẽ được cung cấp trong thời gian gần nhất có thể…
Nhưng có một điều chúng ta lưu ý: Có lẽ Hồ bị Lê Duẩn giam giữ tại K9 không hẳn đã phải vì lý do tranh giành quyền lực mà vì công hàm Hồ ký bán nước năm 1953 . Chúng ta phỉ biết Duẩn là 1 tên cộng sản độc tài nhưng không bao giờ tán thành việc sát nhập 2 nước VN-TQ của Hồ. Và cũng có lẽ vì giao ước sát nhập 2 nước năm 1953 do Hồ ký này mà cộng sản Việt Nam hiện nay vẫn đang tiếp tục con đường bán nước…!
Câu Chuyện Ba Dũng
Khi Nguyễn Minh Triết con trai của y tá vườn 3X được bổ nhiệm chức tước vào hồi tháng 6/2014, lúc đó Triết 24 tuổi được đưa về Bình Định giữ chức bí thư tỉnh đoàn, sau đó ít lâu được ‘cơ cấu’ vào ban chấp ban chấp hành đảng bộ tỉnh Bình Đình. Sự thăng tiến nhanh chóng đối với Triết nhờ vào người bố mình là đương kim thủ tướng CSVN Nguyễn Tấn Dũng. Nhiều người đã nghĩ rằng CSVN sẽ có đổi mới. Và trong đó có nhiều “nhà đấu tranh” công khai ca ngợi 3 Dũng “đổi mới”, ủng hộ Triết trên Facebook rồi sau đó vội vàng xóa đi vì sợ người dân phát hiện ra sự tráo trở đó. Nhưng đó không phải là câu chuyện chính ở bài viết này.
Câu chuyện ở đây đó là người ta kỳ vọng vào sự “thay đổi” từ một phe “thân Mỹ” nào đó mà giới đấu tranh tưởng tượng ra. Điều đó trên thực tế lại hoàn toàn không có. CSVN đu dây giữa Tàu và Mỹ nhưng bao giờ thì Tàu cũng nặng hơn. Đi với Mỹ thì CSVN sợ sẽ mất đảng, mất đảng sẽ không còn quyền lực và tiền tài. Đi với Tàu thì mất nước nhưng có tất cả cho cá nhân đảng viên. Mà nói cho đúng thì có còn nước đâu nữa mà giữ vì đảng CSVN đã bán hết từ lâu rồi. Chỉ có điều bây giờ đảng phải ngồi đó để mà hưởng thụ dần số tiền đã bán nước cho Bắc Kinh.
Quan trọng hơn nữa, đảng CSVN hiểu rằng nếu theo Mỹ thì Việt Nam có dân chủ. Dân chủ thật thì đảng CSVN chết sớm, dân chủ giả hiệu thì sớm muộn gì CSVN cũng chết vì lòng dân có sự căm phẫn đang đi tới mức tới hạn cho phép. Chỉ còn một con đường duy nhất cho đảng CSVN đó là theo Tàu để giữ lẽ sống cho đảng.
Có biết bao người cứ kỳ vọng Nguyễn Tấn Dũng có con gái và cháu ngoại đã nhập quốc tịch Mỹ, rồi người ta cũng cứ lầm tưởng khi cho rằng Dũng “thân Mỹ, chống Tàu” không giống như Trọng lú. Và có cả tá người ủng hộ anh y tá vườn làm “tổng thống” của Việt Nam tương lai. Nhưng anh y tá cộng sản vẫn mãi là anh y tá cộng sản. Ba Dũng chẳng bao giờ chống Tàu, theo Mỹ cả mà chỉ là những hình thức đu dây không thể khác hơn để đánh lừa dư luận. Nhưng khi mà đại hội đảng 11 gần tới để cho việc trơn tru sắp xếp nhân sự thì anh ba X đã thể hiện rõ bộ mặt thật của mình.
Trong bài phát biểu của Nguyễn Tấn Dũng trong ngày 30/4 vừa qua, với nội dung lên án “tội ác” của Mỹ và cám ơn Liên Xô, Trung Cộng đã giúp cho cộng sản Bắc Việt chiến thắng. Trong khi đó một mặt ba Dũng hô hào “hòa hợp hòa giải dân tộc”, cụ thể là với những người của chế độ VNCH đang ở trong nước hay nước ngoài, một mặt hắn không ngại miệng tiếp tục luận điệu vu khống và chửi rủa người ta là “ngụy quân, ngụy quyền” , huyênh hoang rằng chúng đã “đánh cho Mỹ cút, đánh cho Ngụy nhào”. Đó là một điểm cho thấy đồng chí X cũng giống như bao tên cộng sản khác là nói láo, làm láo và lươn lẹo thuộc hàng “đỉnh cao” trí tuệ. Chưa bao giờ CSVN thực tâm mong muốn hòa hợp hòa giải cả. Lòng lang dạ sói của CSVN là như thế!
Theo nhiều người thì bài diễn văn của Ba Dũng chỉ đào thêm hố chia rẽ trong lòng dân tộc, khác với lời kêu gọi hòa giải hòa hợp mà đảng CSVN vẫn kêu gọi suốt bao năm qua. Điều đó đã cho thấy CSVN đúng như lời của cựu tổng thống VNCH Nguyễn Văn Thiệu nói “Đừng tin những gì cộng sản nói mà hãy nhìn những gì cộng sản làm”. Chính vì thế, trong khi tập đoàn cai trị CSVN rầm rộ tổ chức cái gọi là “chiến thắng 30/4″ thì ở hải ngoại và nhiều nơi trong nước, người dân Việt lại tổ chức các buổi cầu siêu, cầu nguyện cho hàng triệu người đã chết dưới chế độ cộng sản. Các cuộc biểu tình tọa kháng cũng diễn ra trước các tòa đại sứ Việt Nam ở Hoa Kỳ, Úc, Âu châu để lên án chế độ độc tài đảng trị ở Việt Nam. Thật là nực cười khi chính con gái Ba Dũng mới đây đã nhận quốc tịch Mỹ vậy mà vẫn chửi cái gọi là “Đế Quốc”. Rõ ràng CSVN đã tự lỗ rõ bộ mặt của mình khi họ cứ chửi Mỹ trong khi con cái thì trốn chạy khỏi Việt Nam – xứ thiên đường ảo tưởng để đến được cái nơi mà đảng CSVN vẫn đang ngày đêm chửi bới.
Sắp tới Tổng bí Trọng lú sẽ đi thăm Mỹ, có lẽ để chuyến đi không chịu nhiều áp lực từ họ Tập Bắc Kinh nên Dũng đã giảm nhiệt bằng bài diễn văn tố Mỹ. Tố Mỹ và theo Tàu vẫn là chủ trương của đảng. Như vậy, CSVN vẫn chẳng thể nào thay đổi bản chất nhận giặc Tàu làm cha. Do vậy đây chính là bằng chứng không thể nào chối cãi khẳng định chúng ta không thể nào hòa hợp hòa giải và tha thứ cho CS. CSVN rõ ràng cần phải loại bỏ là một chân lý hoàn toàn chính xác.
Một điều cuối cùng cần nhận định, Ba Dũng cũng cần có một chỗ dựa vững chắc trong cuộc chiến đấu với phe Trọng lú nên phải tiếp tục bài ca muôn thuở. Bài ca đó là ngợi ca công lao của các chú Ba Tàu trong công cuộc đi xâm chiếm bất hợp pháp một nước khác. Nhưng ba Dũng cảm ơn thì cũng chẳng có gì là lạ lùng cả. Nếu không có Liên Xô và Trung Cộng thì CSVN chẳng bao giờ ăn cướp được VNCH cả. Nếu mà CSVN không ăn cướp được Miền Nam thì bây giờ Ba Dũng vẫn chỉ là anh y tá quèn nơi bưng biền Cà Mau. Nhờ có ăn cướp anh Ba mới được đổi đời nhanh đến vậy.
Nhưng anh Ba cũng lại quên một điều cơ bản, ngoài việc con gái, con rể, cháu ngoại đã được Mỹ cho nhập tịch thì ba Dũng cũng nên mang ơn Mỹ vì nhờ có Mỹ đi đêm với Tàu mà cái thứ đảng cướp của anh Ba mới có thể giàu sụ như ngày nay. Nhờ có Mỹ bỏ rơi VNCH mà anh Ba ngày 30/4 hàng năm mới có thể lên lễ đài trong bộ Vest lich lãm nhưng thấm đầy máu người dân Việt Nam để bốc phét tung trời. Lẽ ra anh Ba Dũng và bầy đàn CSVN cũng nên cảm ơn Mỹ nữa. Nhưng anh Ba thì lại Vô ơn với Mỹ!
Nói cho cùng thi anh Ba Dũng vẫn chỉ là anh cộng sản láo toét và vô ơn không hơn không kém. Anh chẳng khác gì mấy tên cầm đầu CSVN khác. Hỡi những ai mơ tưởng về sự “ thân Mỹ” của ba Dũng và những ai đã từng đón gió trở cờ cổ động cho con trai Ba Dũng liệu đã biết thế nào là Ba Dũng , biết thế nào là Cộng Sản chưa?. Có biết mới đau, có đau mới giã được tật. Cộng sản thì chẳng đứa nào mà tin được cả, chúng không khác chi những con Két vô ơn. Chỉ bao giờ bỏ đảng, về với người dân để chống lại Cộng Sản mới đáng được tin. Lời ông tổng thống Nguyễn Văn Thiệu vẫn mãi đúng với Cộng sản dù là trong bất cứ hoàn cảnh nào.
CSVN quyết theo Tàu bán nước
CSVN không hề muốn chống Tàu, sau những hành động lố bịch bị người dân phanh phui như cờ sáu sao, thành phố tự trị thì mới đây nhất CSVN đã rời hẳn thủ đô Hà Nội sang đất Tàu. Sự kiện này đã được chính báo Vietnamnet đưa tin “Thủ đô Hà Nội không còn thuộc địa phận Việt Nam mà bị dời hẳn sang Trung Quốc là điều mà người xem phát hiện khi xem gameshow truyền hình thực tế “Điệp vụ tuyệt mật” vừa lên sóng trên VTV3 ngày 2/5”. Đây chính là âm mưu thử phản ứng của người dân đối với tương lai Việt Nam sẽ mất hẳn vào tay Trung Cộng.
Hà Nội đã sang Tàu…
Chưa hết, trên báo Quân Đội Nhân Dân của CSVN đã đăng một tấm biển như sau ngay trong tháng 5/2015:
Tại sao biển đảo của Việt Nam lại cứ phải “quyết tâm” tuần tra chung với giặc Tàu là sao? . Hỏi là đã trả lời đầy đủ, đất nước của chúng ta đã không còn thuộc về chúng ta nữa. Đàng CSVN đã thực hiện đúng tinh thần của Hồ Chí Minh là đem Việt Nam về với Trung Cộng.
Rõ ràng không có một tên cộng sản nào theo Mỹ hay yêu nước cả. Tất cả chúng đều bán nước theo Tàu. Do đó nhiệm vụ của chúng ta là cho toàn dân thấy được bộ mặt thật của CSVN và đứng lên lật đổ chế độ CS. Chúng ta không thể nào hòa hợp hòa giải với CSVN.
Và cũng đừng mong chúng tự thay đổi như cách trình bày của Luật sư Nguyễn Văn Đài khi gặp ông Tom Malinowski – Trợ lý Ngoại trưởng Hoa Kỳ về Dân chủ, Nhân quyền và Lao động và cũng là Trưởng đoàn Đối thoại Nhân quyền Hoa Kỳ. Theo nội dung bài viết thì Luật sư Đài đã nói: “LS Nguyễn Văn Đài thay mặt Hội AEDC trình bày về việc thay đổi phương thức đấu tranh của hội từ đối đầu sang đối thoại với an ninh cấp cao và nhận được phản hồi rằng thay đổi tại Việt Nam sẽ đến từ từ nếu các tổ chức XHDS đủ mạnh. Bên cạnh đó LS Đài cũng nêu ý kiến về vấn đề tài chính để Hội AEDC có thể hoạt động hiệu quả hơn.”.
Không thể có đối thoại với CSVN khi chúng dùng bạo lực đàn áp người dân. Càng không thể đối thoại với chúng khi Cộng sản “chỉ có loại bỏ, không thể thay đổi” (Lời của cựu tổng thống Nga – B. Yeltsin).
Và một điều càng quan trọng hơn nữa đó là với những gì đã diễn ra thì CSVN chỉ biết theo Tàu để bán đứng dân tộc Việt Nam. Theo Tàu chính là lẽ sống của đảng CSVN. Do đó lẽ sống của chúng ta chính là toàn dân đứng lên để lật đổ chế độ CSVN. Nếu cả nước Việt Nam biết sự thật về đảng CSVN như lời cố thi sỹ Nguyễn Chí Thiện đã nói thì không có gì là không thể cả. Xin đừng ảo tưởng vào sự thay đổi của CSVN. Đó là điều không thể nào tồn tại.
Đặng Chí Hùng
30/05/2015
Chủ Nhật, 17 tháng 5, 2015
Thứ Tư, 22 tháng 4, 2015
Thứ Ba, 24 tháng 3, 2015
Thứ Sáu, 6 tháng 3, 2015
TÍNH CHẤT VIỆT GIAN CỦA TẬP ĐOÀN CỘNG SẢN VN ĐÃ PHÁT HUY HIỆU QUẢ RA SAO?
TÍNH CHẤT VIỆT GIAN CỦA TẬP ĐOÀN CỘNG SẢN VN ĐÃ PHÁT HUY HIỆU QUẢ RA SAO?
Lũ trí nô ở Việt Nam đến nay đã từng chấp nhận để bị việt gian hóa qua cái gọi là “cách mạng văn hóa tư tưởng” thường xuyên, bằng học tập chính trị để xây dựng con người xã hội chủ nghĩa; qua việc nhận xét công tác nửa năm và cả năm để được lên lương, tăng bậc ngay từ trước khi tập đoàn VGCS Hồ Chí Minh vào Hà Nội năm 1954. Nhờ đó tập đoàn VGCS đã tập hợp được lực lượng trí nô vô liêm sỉ để tấn công và tiêu huỷ mọi sản phẩm trí tuệ truyền thống của Việt Nam trên mọi lãnh vực. Từ việc chúng đổi trắng thay đen trong lịch sử, tạo ra những giai thoại để thần thánh hóa những tên tội đồ nặng ký nhất trong hàng ngũ lũ VGCS, kể cả các ông chủ Nga Xô và Tàu bành trướng của tập đoàn VGCS. Cũng như chúng đã đẻ ra rất nhiều những nhân vật ảo để làm hình mẫu rồi dùng lũ trí nô tuyên truyền nhồi sọ các tầng lớp thanh niên cũng như học sinh sinh viên, trí thức tương lai để tiếp bước của chúng. Các loại hình văn học nghệ thuật có nhiệm vụ cổ vũ tinh thần gắn bó với Nga Xô và Tàu bành trướng không chỉ về lập trường chính trị mà ngay cả con người lẫn lãnh thổ của Việt Nam cũng trở thành một bộ phận của Nga Xô và Tàu bành trướng. Mọi định hướng từ kinh tế, chính trị, quốc phòng, văn hóa văn nghệ đều do Nga Xô – Tàu bành trướng phân công giao nhiệm vụ cho tâp đoàn VGCS Hồ Chí Minh.
Thí Dụ Cụ Thể Như:
a) Trong cuộc meeting ngày 01 Tháng 01, 1955 chào mừng năm mới, diễn ra trước quảng trường nhà hát lớn Hà Nội, tên đại VGCS Phạm Văn Đồng lúc đó giữ chức Phó thủ tướng kiêm Bộ trưởng Ngoại Giao của nguỵ quyền VGCS Hồ Chí Minh, đã hỉ hả khoe rằng, sau khi họp Hội Nghị Geneve về Việt Nam 1954, trên đường về hắn có dừng tại Moskva (Mạc Tư Khoa) và đã được Malenkov, Tổng bí thư Đảng cộng sản Nga và Molotov, Bộ trưởng ngoại giao Nga Xô, đã phân công cho Việt Nam (tức Miền Bắc Việt Nam) chỉ cần trồng chuối và săn Hổ xuất cảng sang Nga Xô thì sẽ được Nga Xô cung cấp cho đủ ăn đủ mặc !!!???
Đó là tiền đề cho việc sau này tên Hoành Anh, Bí thư trung ương VGCS, trưởng ban Nông nghiệp trung ương kiêm phó thủ tướng nguỵ quyền VGCS, đã cho thi hành trồng chuối trên tất cả các đồi trọc ở Tây Bắc và Việt Bắc Việt Nam. Cũng như tên Thượng tướng Chu Văn Tấn, Ủy viên Trung Ương VGCS, Phó chủ tịch Quốc Hội VGCS, kiêm Bí thư khu ủy Khu tự trị Việt Bắc được phân công độc quyền thu mua, săn bắt hổ và thuốc phiện!
b) Việc khai giảng niên học 1955-1956 của Trường Nữ Học Trưng Vương ở Hà Nội, tên đại tội đồ Hồ Chí Minh trực tiếp đến huấn thị và phát đi lệnh “cấm mặc chiếc áo dài truyền thống của Phụ nữ Việt Nam”. Từ đó cả Miền Bắc Việt Nam, phụ nữ đều mặc áo cánh nhuộm màu hoa sim hoặc màu gụ với quần dài mầu đen và màu xanh lá cây! Mùa đông thì mặc áo bông cổ lông màu xanh của Tàu Mao sản xuất, và bắt đầu cắt tóc ngắn, trước trán cắt theo mẫu “Hỷ Nhi”, một nhân vật điện ảnh Tàu Mao. Nghĩa là thời kỳ đó cả Hà Nội hệt như một thành phố của Tàu Mao chỉ có chút khác biệt là mọi người nói tiếng Việt (vì chưa kịp học tiếng Tàu)!
Cũng từ đó, cán bộ VGCS và học sinh từ khu học xá bên Tàu Mao và từ những vùng do VGCS quản lý tràn vào các tỉnh thành như Hà Nội, Hải Phòng, Nam Định… hầu hết mặc áo “đại cán” kiểu Tàu Mao và không ít thanh niên cho đến cái gọi là “cán bộ lưu dụng” ở các đô thị, thành phố Miền Bắc Việt Nam cũng a dua may áo giống Tàu Mao, nhất là tầng lớp trí thức, văn nghệ sĩ!!!
Điều đó cho thấy tập đoàn VGCS Hồ Chí Minh đã nhanh chóng hán hóa toàn dân Việt Nam ít ra là về mặt “Văn Hóa Y Phục”!
Nếu một khách du lịch Phương Tây đi từ Tàu sang Việt Nam sẽ khó mà phân biệt được Việt Nam và Tàu là hai nước, hai dân tộc khác nhau, mà cứ tưởng đó là nước Tàu Mao, vì từ sân ga biên giới đến các cơ quan, trường học, chợ búa, các cửa hàng, các nhà dân… đâu đâu cũng treo ảnh từ Mao đến Lưu Thiếu Kỳ, Chu Đức, Chu Ân Lai, Trần Nghị ở nơi trang trọng nhất. Nhiều nơi còn treo cả ảnh Bành Đức Hoài (Bộ trưởng quốc phòng của Tàu Mao), Khang Sinh (Bộ trưởng công an Tàu Mao) và cả Đặng Dĩnh Siêu (vợ của Chu Ân Lai”!!!
Tường trên các phố xá thì dán đầy bích chương phim ảnh của Tàu Mao như Cờ Hồng Trên Núi Thuý; Bạch Mao Nữ…
c) Về giáo dục có một điểm rất đặc thù của VGCS mà ngay thời thực dân Pháp cũng không bao giờ xảy ra. Đó là ngay từ các em ở Mẫu Giáo và lớp 1 đã phải học tập lao động bằng chân tay. Tất cả các em phải mang chổi đi quét rác ở các Đường Phố, Hồ Gươm mà chổi thì cao hơn các em. Không khẩu trang bịt mặt, các em đùa nghịch quét rác, bụi hắt vào người nhau, vào mặt nhau và cười hồn nhiên. Còn cô giáo cũng như người đi đường thản nhiên như không có chuyện gì là lạ.
Học sinh cấp 2, cấp 3 và sinh viên thì làm lao động vệ sinh ở các công trường, ở các khu phố xa trung tâm và ngay chính trường và lớp mình học. Riêng sinh viên, phải tham gia vào công việc xây dựng trường, phải thay nhau nấu ăn và làm vệ sinh trường lớp; phải tập quân sự, biên chế thành các đơn vị tự vệ và có tập bắn súng thật, tập chiến đấu đánh chiếm lại hoặc bảo vệ nhà trường. Ngoài ra ba tháng hè phải đi lao động giúp nông dân trong mọi công việc đồng áng. Hằng đêm đều có sinh hoạt và kiểm điểm tư tưởng xem có an tâm học tập hay không. Khi học thì theo tổ, tối thiểu là tổ Tam- Tam (tức từng 3 người một)… Khi thi lên lớp hoặc ra trường điều quan trọng là có việc cộng thêm điểm ưu đãi cho thành phần đảng viên, xuất thân cốt cán hay con cái quan lại đỏ. Điểm chính trị và điểm tập quân sự cũng như điểm lao động và điểm tham gia sinh hoạt văn hóa quần chúng (tức là viết báo tường hay còn gọi bích báo) với các nội dung ca ngợi tập đoàn VGCS, đặc biệt là Hồ Chí Minh và những tên như Mao, Marx, Engel, Le Nin, Stalin…Và còn một điều rất quan trọng nữa là viết báo tường (bích báo) để tố cáo sai trái về tư tưởng và hành động của những sinh viên cùng lớp hoặc cùng trường. Cũng có thể tố giác những người không phải là sinh viên hoặc sinh viên không cùng trường cùng lớp. Nghĩa là bất kể một con người cụ thể nào dù làm bất kể việc gì, ở bất kể nơi nào mà mình thấy hay nghi ngờ về họ qua một lời nói hoặc có những hành động mà mình cho là nguy hiểm cho chế độ!!!???
Điểm kiến thức là thứ yếu. Vì mục tiêu nền giáo dục của VGCS là thuần hóa tầng lớp tương lai để bảo đảm chắc chắn họ phải là trí nô cho nên điều quan trọng trong giáo dục là phải hèn hóa và vô liêm sỉ hoá họ trước đó. Và ngay từ đó đã gây ra sự “bằng mặt mà chẳng bằng lòng” để họ tự cô lập, tự cảnh giác với bạn đồng học và tất cả mọi người. Từ đó sẽ chắc chắn khó có thể hình thành một âm mưu gì để chống lại sự cai trị của Nga Xô và Tàu bành trướng đối với nhân dân và đất nước Việt Nam lúc đó, thông qua toàn bộ hệ thống chính trị của tập đoàn VGCS Hồ Chí Minh. Và cũng xin lưu ý rằng ngay từ đó VGCS đã hoạch định để cho thanh niên sinh viên, học sinh thành lực lượng dự bị, có thể khoác áo lính ngay nhằm bổ xung cho lực lượng nguỵ quân chính quy của VGCS "sinh bắc tử nam" trong xâm lược Việt Nam Cộng Hòa, mở rộng thuộc địa đỏ cho Nga Xô và Tàu bành trướng.
Chính Khí Việt
Thứ Năm, 3 tháng 4, 2014
CHIẾN DỊCH HOA HỒNG ĐỎ
CHIẾN DỊCH
HOA HỒNG ĐỎ Ở HẢI NGOẠI CỦA VGCS
Lời nói đầu:
Nhiều người Việt miền Bắc di cư năm 1954 đã thuật lại
cho dân miền Nam biết về những thủ đoạn thâm độc của VGCS, nhưng có một số không
tin; đặc biệt là vài người trong giới trí thức khoa bảng, họ tin vào lòng chân
thành của VGCS để "hoà hợp hoà giải".
Khi miền Nam bị rơi vào tay CS
thì một số bị vào tù hoặc phải cao bay xa chạy; số còn lại vẫn còn tin nơi
"thực tâm hoà giải giữa những người Việt với nhau", chỉ trích chính
quyền VGCS như họ đã từng làm dưới thời "không dân-chủ" của Thiệu-Kỳ. Đối
với Đảng, việc nầy không thể tha thứ được; người của Đảng thì được lệnh chỉ
trích đảng, nhưng người không thuộc guồng máy tuyên truyền của đảng thì sẽ như
cá cắn câu: VGCS đã từ từ khớp miệng họ lại, đóng cửa các tờ báo như Tin Sáng của
tên việt gian Ngô Công Đức, Tiếng Chuông, Đối Diện của "linh mục thiên tả"
Thanh Lãng và nhốt họ vào địa lao.
Một thời gian sau khi được thả, họ lại ráng
nói vài câu trần tình đầy sự bất mãn (như linh mục tiến sĩ Chân Tín, được thả
vào 12/5/93 và "cha" Nguyễn Ngọc Lan vào 1992). Sau đó, người ta
không còn nghe họ nói gì nữa. Họ là những kẻ đặt lòng yêu nước thương nòi không
đúng chỗ (chỉ trích chính phủ Quốc Gia, nhưng lại tin VGCS) và cuối cùng họ phải
gánh hậu quả của việc không có lập trường vững chắc. Họ đinh ninh rằng có thể
"cải hóa" VGCS dựa vào tình dân tộc, nghĩa đồng bào. Tuy nhiên, họ đã bị
phản bội vì không hiểu rõ VGCS. Họ lầm lẫn vì cứ xem VGCS cũng là người VN
thuần túy như họ. Sự thật không phải như vậy vì người CS ở đâu cũng thế; họ là
những người của một hệ thống "đại đồng" và "quốc tế"; họ là
đệ tử của Lê-nin. Lê-nin đã từng nói trong tập 2 và 3, cuốn VI của Lê-nin toàn
tập như sau:
"Đối với kẻ thù (của gia cấp vô sản), khi cần
phải hợp tác thì cứ hợp tác"
nhưng
"Người cộng sản không được tỏ ra ngại ngùng
trước chuyện phản bội; kẻ nào chống lại sự phản bội tức là anh ta đã theo quan
điểm tư sản chứ không phải quan điểm vô sản".
Đi sâu vào trong bài, ta sẽ thấy tại sao khó có thể cải
hóa người CS được. Thật sự ngày nay, có lẽ ít có ai dám đi thử xem tư tưởng
trên của Lê-nin kia ra sao.
Dân 2 miền Nam Bắc đã từng bị Đảng VGCS "chơi xỏ",
không phải một mà nhiều lần. Một số khoe với các bạn miền Bắc vào sau 1975 rằng,
họ đâu còn sợ bị lừa nữa khi kinh qua các vụ đổi tiền và đánh tư sản. Nhưng các
người nầy nói rằng, các anh đã lầm to, các anh chưa nếm đủ hết các màn xảo trá
của CS Hà Nội đâu! Điều nầy có đúng không? Thời gian qua cho ta thấy là câu nói
kia của các người miền Bắc rất đúng.
Vì sao người ta bị lừa mà vẫn lao đầu vào "lửa"?
Bởi vì các màn lừa lọc đều khác nhau. Không lẽ một số rất ít trong chúng ta ngu
muội tới mức độ chưa thấy rõ VGCS? Khi đã chạy trốn CS, bỏ quê hương, mồ mã tổ
tiên, thân nhân và nhà cửa, tức là ta đã thấy rõ chế độ đó như thế nào rồi. Đó
là một sự lựa chọn có ý thức trong tự do. Đã quyết định chối bỏ một chế độ để
ra đi, tức là đã có thái độ chính trị rõ ràng được bày tỏ. Nay lại quay đầu về
cùng với các tay "ăn cơm quốc gia, thờ ma cộng sản" để hỗ trợ chế độ
độc tài bằng cách nầy hay cách khác; không có ý chí sắt đá tin vào lý tưởng
mình đang theo đuổi. Về vấn đề nầy ta vẫn còn thua xa người CS. Đó phải chăng
đây là một thái độ, một lập trường tư tưởng bất chính, phản phúc, phản bội với
chính bản thân mình trước, và sau với đồng bào cùng ra đi với mình trên những
chiếc thuyền mỏng manh?
Sự phản phúc thấy rõ nhất trong quá khứ là ở một thiểu
số trong thành phần được may mắn đi du học nước ngoài trước 1975. Trong khi những
người cùng lứa tuổi phải giãi gió dầm sương, liều mình bảo vệ hậu phương, bảo vệ
gia đình họ để họ an tâm đi học. Những người chiến sĩ kia chỉ mong người có may
mắn hơn được học thành tài hầu báo đáp phần nào sự hy sinh kia, thì lại phản trắc
và lưu manh, không biết đâu là chánh nghĩa, chạy đuôi theo bọn "bồ câu đỏ"
tố khổ lại "đám cực đoan vàng" -- các người đang bảo vệ gia đình của
mình ở quê nhà. Rồi, theo sự ru ngủ của VGCS, đám "một dạ hai lòng" nầy
đã nghe lịnh từ quan thầy VGCS, len lỏi vào trong các cơ quan quốc tế và nằm chờ
cơ hội. Nay, chính những kẻ "ăn cơm quốc gia thờ ma cộng sản" đó lại
chài người nhẹ dạ, chưa bao giờ biết VGCS là gì, để giúp VGCS.
Các kinh nghiệm từ xưa tới nay đốc thúc ta nhớ kỹ là
nên có một lập trường dứt khoát; lập trường này không bao giờ sai lầm và không
có gì lay chuyển nổi: không giúp CS bành trướng. Dù là CS Tàu hay CSVN, họ đều
tàn bạo, xảo quyệt và khát máu; đặc biệt là VGCS, họ có thể được xem là tên đứng
đầu trong thành tích xảo trá và hay bắt chước đàn anh nhất trong các nước CS
trên thế giới xưa và naỵ Họ biết lúc nào đứng lên cũng như biết lúc nào nằm mẹp
xuống. Họ vẫn không ngừng dòm ngó và suy xét làm sao chủ nghĩa kia được sinh tồn
để lấn át đi những gì mà dân tộc ta xây đắp qua mấy ngàn năm đầy máu và nước mắt.
Chuyện gì đã xảy ra mấy năm trước đây chắc bây giờ
không còn ai nhớ nữa. "Ôn cố nhi tri tân" vẫn là phương thế soi rọi
cho người sau biết rõ mình đang làm gì, lợi và hại ra sao? Bài "CHIẾN DỊCH HOA HỒNG ĐỎ HẢI NGOẠI CỦA CSVN" được
đăng lên với mục đích đó. Số người bị vướng vào chủ nghĩa CS qua muôn tình huống
thì rất nhiềụ Bọn họ có thể là triết gia, tiến sĩ, bác sĩ, kỹ sư, văn sĩ, họa sĩ,
sinh viên, nông nhân, thợ thuyền,... Đa số nghe theo lời dụ dỗ của VGCS qua công
tác gọi là TRÍ VẬN (công tác lừa dối quần chúng). Bọn họ cũng có thể là
"vài" kinh tài cho VC; nhiều người trung gian chuyển tiền nầy được kết
nạp kín đáo vào Hội Việt Kiều Yêu Nước với giấy chứng nhận, giấy giới thiệu của
giới chức VGCS ở hải ngoại cấp cho để khi về VN được giúp đỡ dễ dàng. Từ chỗ ham
lợi vào Hội Việt Kiều Yêu Nước để buôn bán với VC, vừa có lợi tiền bạc, lại được
sự nâng đỡ của các đồng chí khi về thăm quê hương, đi tham quan,... Rồi từ đó
tính đến chuyện móc nối tuyên truyền, dụ giỗ gia nhập đảng, làm cán bộ nằm vùng
ở hải ngoại, chỉ khoảng cách...một gang tay! Những người này được VGCS nhận định
và lợi dụng như thế nào, ta sẽ tìm hiểu qua bài "Chiến dịch...".
Điều đáng để ý nhất là một số người bị chài mà xưa kia
chính gia đình họ hay chính bản thân họ đã bị CS tù đàỵ Những người nầy đã được
VGCS giảng giải về "lòng yêu nước kiểu CS" hay nhận vài sự thi ân liền
quay về làm việc cho VGCS (quay về với "dân tộc" là quay về với đảng).
Một trong những thí dụ nầy là trưòng hợp của Hà Văn Lâu.
Cán bộ CS được đào luyện về chính trị (nhồi sọ) và
lòng hận thù giai cấp liên tục từ khi còn ở nhà trường, và cứ như thế, ngày nầy
qua tháng nọ, họ trở thành những kẻ xảo quyệt, chuyên dùng mưu mô để làm sao có
lợi cho đảng. Với sự chuẩn bị như thế và với lối suy nghĩ một chiều, họ sẵn
sàng hy sinh mù quáng cho "lý tưởng CS" dù có đi ngược với quyền lợi
của quần chúng. Họ phải làm đủ cách để con mồi vào rọ, nhất là những con mồi
chưa bao giờ sống trong thế giới của họ.
Ta tự đặt thêm câu hỏi tại sao VGCS lại có thể lừa được
quá nhiều người, không phải một lần mà rất nhiều lần? Câu trả lời có thể là VGCS
là những tay tuyên truyền và nói dối chuyên nghiệp; họ đặc
biệt giỏi ở chỗ khơi dậy lòng yêu nước của người khác để lợi dụng. Từ
VN, họ đã gởi nhân viên đi khắp nơi và, chỉ trong một khoảng thời gian, họ đã
gôm tụ được một số "cảm tình viên gốc...ngụy,
nhứt là giới trẻ non nớt và tự phụ", không vững ý chí và sáng
suốt. Những người nầy, đã được giới thiệu đọc những sách phản chiến, được
"sinh hoạt" , "giúp đỡ", "bồi dưỡng" và kết cuộc
họ đã làm việc không công cho VGCS.
Linh mục quốc doanh Huỳnh Công Minh.
Một phương pháp đáng để ý khác nữa là "dùng gậy
ông đập lưng ông". Phương pháp nầy được chính thức áp dụng bởi VGCS. Gần đây
và rõ ràng nhất là vụ VGCS dùng nó để các người theo đạo Phật tố lẫn nhau. Sư và
ni cô "quốc doanh", phối hợp với sư và ni cô "công an" bắt
đầu đè bẹp những người cùng theo một lý tưởng tôn giáo với mình. Bên công giáo
cũng thế, xuyên qua cánh tay của đảng, Mặt Trận Tổ Quốc Việt Nam (the Vietnam
Fatherland Front) đã dùng linh mục quốc doanh Huỳnh Công Minh để chờ tiếm
quyền của Tổng Giám Mục Nguyễn Văn Bình (vì vậy VGCS không muốn Vatican tấn phong
một vị khác) hoặc tên linh mục "có vợ" Phan Khắc Từ nổi tiếng
"linh mục hốt rác" trước 1975 ngày xưa để dò xét sinh hoạt công
giáo cho đảng ở Saigon.
Ta hãy đọc kỹ một trong những cách chài người của VGCS để
đừng bao giờ khinh thường họ cả. Ngoài ra, hãy để ý tới vài nhóm phản chiến được
gài trong "religious groups"; chính những nhóm nầy đã hỗ trợ cho VGCS
xâm chiếm miền Nam và gây bao đổ vỡ tang thương cho bao gia đình .
Chúng ta sẽ thấy trong tương lai những hiện tượng xảy
ra y như những gì mà người ta đã biết về người CS khi họ dùng các phương pháp nầy
để hại bao thế hệ đi trước. Thực vậy, ở mỗi thế hệ, một số người đã bị sa vào
lưới trong đó chỉ có rất ít, cả già lẫn trẻ, được may mắn thoát khỏi chủ thuyết
mà thôi. Cứ như thế bánh xe trớ trêu của con tạo cứ xoay vần và nghiền nát những
kẻ ít may mắn đó.
Ngạn ngữ Mông Cổ có câu:
"Không phải tất cả những người cười
với anh đều là bạn, cũng như không phải tất cả những người làm anh bực mình đều
là kẻ thù".
Cho tới 1988, Hà Nội thường không ngớt gọi tập thể người
Việt tỵ nạn chính trị tại hải ngoại là những phần tử "gian manh, lười biếng",
không chịu ở lại "xây dựng đất nước" mà chạy theo "bơ thừa, sữa
cặn của đế quốc". Một mặt, VGCS gây biết bao hãi hùng cho dân và làm họ phải
bỏ chạy, còn mặt khác thì đánh tiếng cho người Tây phương biết là đám người Việt
kia chỉ là những kẻ "hèn nhát và ăn bám" để người ngoại quốc không
cho họ có chỗ dung thân: VGCS đã đưa họ vào thế lưỡng đầu thọ địch. Sau đó, VGCS lại
nói khác: người Việt tị nạn cũng là "những Việt kiều yêu nước" nếu họ
đem tiền về giúp kẻ đuổi họ đi hoặc hãy hợp tác với họ Một vài Việt gian đã làm
được việc này: gần đây ở Little Saigon, Phạm Đăng Long Cơ (bác sĩ) và Dean Lâm
-- anh của Tony Lâm (Lâm Quang, người bán bún ốc mười mấy năm được bầu làm nghị
viên thành phố Westminster, Orange County, California; thời hạn 2 năm) -- đã
đưa Lê Văn Bằng (đại sứ VGCS tại Liên Hiệp Quốc) và 2 tướng VGCS dạo chơi và ăn uống
thoải mái, rồi cùng thăm viếng những cơ sở làm ăn của người Việt ở Wesminster.
Từ tái sang phải: Luật sư Nguyễn Hoàng Dũng,
BS Phạm Đặng Long Cơ (Chủ Tịch Phòng Thương Mãi O.C.), Đại Sứ M.Michalak, Tony
Thuy Le (Tổng Giám Đốc Le’s Enterprises) và Tô Kiều Phương (Chủ nhiệm Đông
Phương Thời Báo, chủ hệ thống công ty Đông Phương, Inc).
Peter Slipper (trái), Chủ tịch nhóm nghị
sĩ hữu nghị Úc -Việt và việt gian Cộng Sản Thứ trưởng Lê Văn Bàng (thứ 2 từ
trái qua) đang trò chuyện với ông Nguyễn Công Khế (bìa phải),
Khi nhìn lại quá khứ, chúng ta mới hiểu rõ người CS thật
giỏi tài nói lươn lẹo; họ ỷ "có đất và dân" nắm trong tay nên dằn dặt
cho đám "phản tặc" biết tay.
Thật vậy, khi vầy khi khác có chi lạ và đó cũng là một
trong các thói quen của VGCS: họ chỉ hợp tác, hữu nghị, khi lâm vào thế cần sự
giúp đỡ và xuôi chiều để tồn tạị Xưa kia trong thời chiến tranh với Pháp, Hồ
Chí Minh có nói câu:
"Khi cần thì cờ tam tài (cờ của Pháp) cũng
treo".
Câu này suy rộng ra là khi đảng đang ở thế nguy hiểm
thì nếu cần bán nước cho Pháp, qui lụy cho Nga - Tàu, bắt tay lại với "đế
quốc" Mỹ thì không sao, miễn là Đảng được vững và tồn tại. Đó là tư tưởng Hồ
Chí Minh mà VGCS hiện đang giữ gìn, nghiên cứu và áp dụng. Nhưng có một điều là
"tư tưởng" nầy có khác gì các câu nói của Lê-nin ở trên?
Vào khoảng đầu năm 1988, một tờ nhật báo ở Pháp mang
tên Paris Soir có đề cập đến một tổ chức hoạt động KINH TÀI và PHÁ RỐI của VGCS
tại các quốc gia hải ngoại -- nơi có nhiều người VN tỵ nạn -- và được mệnh danh
là "Hoa Hồng Đỏ". Ngoài ra chiến dịch này còn mang một
cái tên khác là chiến dịch "Mạng Nhện". Có 2 cán bộ VGCS đặc trách chỉ
huy và vận động cho chiến dịch trên là Huỳnh Trung Đồng và Lê Quang Sơn.
Trước đây tổ chức này đã có cơ quan truyền thông chính thức là các tờ báo Cái
Đình Làng, Thái Bình, Việt Kiều Yêu Nước, Hồn Nước và những tờ báo thân hữu của
họ là Mầm Non, Thanh Niên Hành Động,...Mục đích là tuyên truyền cho VGCS nhắm vào
2 chủ điểm sau:
1. Kinh tài:
VGCS cho xây dựng các cơ sở kinh tài hải ngoại (một số đã thực sự hoạt động liên
tục kể từ 1976), trong dịch vụ buôn bán, gửi quà, tiền và vật dụng về VN, kể cả
các dịch vụ đưa người vượt biên, xin thủ tục ODP (Operation Departure Program).
Họ cũng liên hệ đến các tổ chức lo các chuyến về thăm VN.
2. Chánh trị:
Nhằm phá rối cộng đồng tỵ nạn, gây xáo trộn mọi sinh hoạt cộng đồng, nhất là
sinh hoạt chính trị.
Sau đây là một bài báo của Hoàng Văn Trác trên
"Ngày nay", số 160, 1/6/1988 nói kỹ hơn về vấn đề này. Sống trong những
thể chế dân chủ, chúng ta có quyền tin hay không tin vào bài nầy. Tuy nhiên,
đây cũng là một tài liệu để ta suy ngẫm.
Hà Văn Lâu cùng phu nhân.
Sau khi thi hành bản án tử hình ĐINH BÁ THI tại Phan
Thiết, Bộ Chính trị đảng VGCS tại Hà Nội đưa tên đại tá có nhiều kinh nghiệm về
tình báo và khuynh đảo là HÀ VĂN LÂU, sang nắm trọn guồng máy tình báo nước
ngoài tại Liên-Hiệp-Quốc. Đi theo phụ tá cho Hà Văn Lâu là Nguyễn Ngọc Dung, nữ
Trung tá, nguyên chỉ huy trưởng tình báo và phản gián quân khu 7 của Trung tướng
VGCS Trần Văn Trà.
Mới đây, Hà Văn Lâu còn được tăng cường thêm một tình
báo cỡ gộc nữa, đó là Phạm Ngọc Ẩn.
Bộ máy tình báo và khuynh đảo của Hà Văn Lâu được đặt
trực tiếp dưới quyền điều khiển của Bộ Chính trị tại Hà Nội, thay vì thuộc bộ ngoại
giao của họ.
Không cần phải dầy công tìm hiểu, mà chỉ cần căn cứ
vào yếu tố trực thuộc Đảng, người ta cũng có thể lượng định được vai trò quan
trọng mà Trung Ương Chính Trị Bộ tại Hà Nội sắp đặt cho bộ máy nầy, nhằm cũng cố
địa vị của họ đối với thế giới bên ngoài và triệt hạ đối thủ là khối hơn một
triệu người Việt tị nạn khắp thế giới, đặc biệt tại Mỹ. Vẫn biết rằng, đối với
VGCS, thì Nhà nước với đảng là một. Nhưng khi một cơ quan được đặt trực tiếp với
đảng (tức Trung ương Chính trị bộ), có nghĩa là chủ trương, đường lối, nội dung
kế hoạch của cơ quan đó sẽ cứng rắn hơn, sắt máu hơn, và vì thế phải được giao
cho những cán bộ từng chứng tỏ "Trung với Đảng, hiếu với dân".
đảng lại có kỹ luật của Đảng, để một khi đi ra ngoài vòng kỹ luật đó, thì chỉ có
lãnh mã tấu như Đinh Bá Thi, Trung tướng Nguyễn Bình đã lãnh.
Cho nên, việc Bộ Chính trị Hà Nội đặt guồng máy tình
báo và khuynh đảo của Hà Văn Lâu trực thuộc đảng, cho ta một nhận xét rất rõ
ràng, về tầm mức quan trọng của họ nhằm vào hàng ngũ tị nạn chúng tạ Kế hoạch của
họ được thực hiện từng bước, mỗi bước gọi là một cánh hồng. Trong bài nầy, ta
hãy lượt qua những bước chính họ đã đi; đó là bốn bước căn bản, được gọi là
Cánh Hồng 1,2,3 và 4.
A.- Cánh hồng 1: Kết hợp
Đinh Bá Thi, người CS có công nhất trong việc dành chiếc
ghế đại diện cho VGCS tại Liên-Hiệp-Quốc, và cũng là đại diện dầu tiên của VGCS
tại diễn đàn quốc tế nầy, bị cơ quan phản gián FBI Mỹ bắt vào trưa ngày
31/1/1978 cùng với tên tay sai người Mỹ là Donald L. Humphrey (có vợ Việt) và
TRƯƠNG ĐÌNH HÙNG (con trai luật sư Trương Đình Dzu), khi cả ba bị bắt quả tang
đang ăn cắp tài liệu mật của Mỹ và bị Hà Nội giết tại Phan Thiết.
Khi Đinh Bá Thi chết, thì hệ thống tình báo và khuynh
đảo của Hà Nội trong kế hoạch "Hoa Hồng Đỏ" đã thực hiện được bước đầu
trong bốn bước của toàn bộ kế hoạch. Bước đầu nầy là bước "Kêt Hợp"
(Cánh hồng 1).
Cánh hồng 1
đã được Đinh Bá Thi và nhóm sinh viên Việt Nam du học do sinh viên Nguyễn Thái
Bình là đầu (Nguyễn Thái Bình bị CIA bắn chết trên không phận biển Nam Hải khi
tên nầy trở về VN năm 1969, một tên sinh viên khác lên thay Bình dường như là Ngô
Bá Long), có nhiệm vụ kết hợp các cán bộ VGCS rải rác khắp nước Mỹ, mà vì lý
do chính trị, họ đã phải phân tán và thu vào trong bóng tối. Ta còn nhớ những
năm 1976-1978, hầu hết mọi gia đình VN tại Mỹ đều nhận được tờ báo THÁI BÌNH
(là tên của sinh viên Nguyễn Thái Bình). Tờ Thái Bình được phát hành, vừa có mục
đích tuyên truyền, vừa để kết hợp cán bộ qua đường giây PO Box.
Cũng như năm 1956, khi Hà Nội bắt đầu kế hoạch tập
trung cán bộ nằm vùng khắp Nam VN, họ đã dùng nhiều hình thức, nhưng dấu hiệu
rõ ràng nhất, mà chính quyền VNCH lúc đó không để ý, là cuốn phim "Mưa Rừng",
do cán bộ VGCS nằm vùng Kim Cương thực hiện. Nội dung cuốn phim là một chuyện
tình, như nội dung của bất cứ cuốn phim thường nào khác. Nhưng hình ảnh cuối
cùng được chiếu trên màn bạc, là hình một đóa hoa hồng đỏ tươi, với một con bướm
vàng bay lượn nhiều vòng, và cuối cùng đậu lại ngay giữa bông hồng. Màu đỏ của
hoa hồng tượng trưng cho nền cờ đỏ. Còn bướm vàng tượng trưng cho ngôi sao
vàng. Hình ảnh cuối cùng của cuốn phim nầy, là một lệnh tập trung cho cán bộ nằm
vùng toàn quốc. Tờ Thái Bình sau đó thấy mất tăm, nhưng để thay thế, VGCS cho ra
đời tờ CÁI ĐÌNH LÀNG, nhưng tờ nầy cũng thấy ngưng, sau khi người đứng đầu là
Dương Trọng Lâm bị bắn chết.
Ngoài việc kết hợp cán bộ CSVN mà VGCS đã có sẵn, Đinh
Bá Thi tìm đến những tay Mỹ phản chiến thứ nặng nhất, để phối hợp và yểm trợ,
trong số nầy, hai người CS đáng tin tưởng hơn cả là Don Luce (tên ký giả
đã tạo ra huyền thoại chuồng cọp Côn Sơn) và Jane Fonda đã dõng dạc đứng
chửi Mỹ ngay tại Hà Nội:
"Nhân dân Mỹ và nhân dân yêu chuộng hoà bình
khắp thế giới, hãy vùng lên, cùng với nhân dân yêu chuộng hoà bình tại VN, xây
dựng một nền Hoà Bình trên phần đất nầỵ" (báo Nhân Dân, số 1485, ngày
28/4/1964).
Ngoài 2 người Mỹ nầy, CS làm danh sách những tay phản
chiến mà họ tin tưởng vẫn còn ủng hộ họ, sau khi đã trực tiếp giúp họ qua chiến
thắng 75. Trong số những người và tổ chức được Đinh Bá Thi kết hợp lại, đầu
tiên phải nói đến hai hội đạo METHODIST và QUAKER, là hai hội đạo cực kỳ phản
chiến đã từng đứng đầu tổ chức cuộc biểu tình lớn lao tại Central Park, Nữu Ước
ngày 27/4/64, cuộc biểu tình nầy được mệnh danh là "Diễn hành chống chết"
(March against Death). Những Coretta King (vợ mục sư King), Kennedy, McGovern cũng
được bọn CSVN tiếp xúc và kết hợp.
Một thành phần khác cũng được lệnh kết hợp, là số cán
bộ VGCS được Hà Nội gởi sang Mỹ qua ngã các đoàn vượt biên. Ta còn nhớ, mấy năm
trước đây, những bộ mặt từng tung hô CS và hợp tác với họ trong cuộc chiến, như
TRẦN NGỌC CHÂU, HOÀNG NGỌC GIÀU là những người ta không nghi ngờ gì cả,
đã được Hà nội gởi sang đây để tiếp tục hoạt động cho họ. Hàng trăm cán bộ khác
không được nêu tên tuổi, nhưng cơ quan phản gián FBI đều biết rõ tung tích của
họ.
Móc nối lại những thành phần từng hoạt động cho họ
Liên lạc với những thành phần mới xâm nhập qua đường giây tị nạn. Củng cố thêm
thành phần phản chiến cũ, VGCS coi như đã hoàn tất giai đoạn "Kết Hợp"
tức "Cánh Hồng 1". Bước thực hiện kết hợp nầy, VGCS đặt ra như
một bước căn bản, như tài liệu học tập của họ đã ghi:
"Thông suốt đường lối Đảng, nắm vững chỉ tiêu
Cách Mạng, kết hợp nhịp nhàng giữa bạn và ta, bước 1 tiến vững vàng, để ta bước
qua bước tiến 2 (Học tập số 2, 6/76).
***
B. Cánh hồng 2:
Vòng tay
VGCS gọi giai đoạn nầy là "Vòng tay",
nghĩa là tìm bạn khắp nơi, đứng về phía họ để yểm trợ họ, như họ đã làm trong
cuộc chiến và họ đã thành công. Người tổ chức và cho phát động bước tiến 2 là
HÀ VĂN LÂU, đại tá thâm niên và có nhiều kinh nghiệm nhất về khuynh đảo trong
hàng ngũ cao cấp của VGCS.
Sở dĩ Hà Nội phải xét lại và củng cố thêm hàng ngũ bạn
của họ, vì sau 1975, rất nhiều thành phần phản chiến Mỹ đã phản tỉnh, trong số
đó, cay cú nhất cho Hà Nội là Joan Baez, người nữ ca sĩ nổi danh, cặp bài trùng
của Jane Fonda, từng hết lời ca ngợi cộng sản Việt Nam, và coi Hồ Chí Minh như
một "Washington Việt Nam".
Hà Nội
cũng nhận định và đánh giá chính xác tiềm năng đấu tranh của khối người Việt Quốc
gia hải ngoại, để thấy được rằng, khối Quốc gia nầy là một trợ lực chính trong
nỗ lực của VGCS nhằm củng cố địa vị của họ trên bình diện quốc tế, nhất là đối với
Mỹ, hy vọng cuối cùng để cứu vãn tình trạng kiệt quệ về kinh tế, và đôn đốc về
chính trị của họ.
Đưa
vòng tay lớn ra để tìm thêm bạn, VGCS đã thấy rõ thế yếu của mình. Nhưng VGCS
không tìm bạn theo đúng nghĩa của bạn, mà VGCS tìm bạn theo tiêu chuẩn mà họ gọi
là TIÊU CHUẨN CÁCH MẠNG, và nhất là để đáp ứng nhu cầu giai đoạn. Ta thấy VGCS
phân loại bạn mà họ muốn thu thập và tìm kiếm, ra hai loại.
1. Bạn lâu dài:
Gồm những thành phần mà quá trình hoạt động có thể chứng
minh được lòng trung kiên đối với chế độ CS. Những đảng viên CS Mỹ, những thành
phần phản chiến cũ còn giữ vững lập trường. Những Don Luce, Stanley Karnow,
Michael McLean, Trần Tam Tĩnh,...là những thành phần được VGCS coi là đồng
chí và là bạn lâu dài.
Chủ đích của VGCS khi thu nhập những bạn lâu dài nầy,
không phải chỉ để có thêm bạn, mà chính là để, từ những thành phần cốt cán nầy,
sẽ ảnh hưởng đến nhiều địa hạt khác, thành phần khác, hầu thu lợi và lôi kéo đứng
về chiến tuyến của họ. Hay nói cách khác, những thành phần mà CS coi là bạn lâu
dài, được VGCS sử dụng như một vết dầu loang. Một Donald L. Humphrey không phải tự
nhiên mà điên khùng đi lấy cắp tài liệu ngoại giao mật của chính quốc gia mình
cho Đinh Bá Thi để lãnh án tù 6 năm. Một Hội Đồng Giám Mục Hoa Kỳ, bên cạnh
lòng nhân từ, đạo đức của các ngài, chắc chắn các ngài còn bị ảnh hưởng từ ngoại
vị Ngoại vi đó có thể là Kennedy, là đám sinh viên thiên tả tại đại học
Harvard, Massachussetts, hay Pennsylvania, là những đại học nổi tiếng phản chiến.
Để các ngài không nhìn thấu được cái quỉ quyệt của VGCS, nên mới có bản nhận định
19/11/70, một nhát búa nặng ngàn cân, đập xuống chính quyền Mỹ.
Một bản chính trong bản nhận định đó: "Bất cứ lợi
ích nào, dù lớn lao đến đâu, mà chúng ta hy vọng đạt được qua việc tiếp tục
tham chiến tại VN, cũng không thể bù đắp được những tàn phá về sinh mạng do cuộc
chiến đó gây nên." (At this point of history, it seems clear to us that
whatever good we hope to achieve through continued involvement in this war is
now outweighed by the destruction of human life and moral values which it
inflicts).
Những Coretta King, Kennedy, Ramsey Clark, tự họ
không làm gì đáng phải làm cho chính phủ Mỹ bó tay về vấn đề VN, nhưng tự họ đã
lôi cuốn hàng trăm ngàn người Mỹ khác, là vì khờ khạo không một chút hiểu biết
gì về bản chất của VGCS, đã cùng nhau xuống đường, hò la, lên án việc tham chiến
của Mỹ tại VN là phản đạo đức (morally wrong) phản hòa bình (against peace).
Tất cả những người Mỹ ngớ ngẩn một cách tội nghiệp đó.
được VGCS coi là bạn trung thành, bạn lâu dài của họ, vì nhờ họ, mà VGCS được
thêm những thành phần khác đứng sau lưng, nghĩa là VGCS đã thành công trong chiến
lược vết dầu loang. Chính những thành phần nầy đã tạo chiến thắng cho họ năm
1975.
Dĩ nhiên, trong thành phần mà VGCS coi là bạn lâu dài,
VGCS còn sử dụng họ trong nhiều phạm vi hoạt động khác, tùy theo khả năng, để gài
vào các nhiệm vụ như gián điệp, trí vận, học đường vụ,...
2. Bạn giai đoạn:
Gồm những thành phần mà VGCS biết rằng, chỉ theo họ vì
hoàn cảnh, vì nhu cầu, hoặc ở một thế kẹt nào đó. Cũng được coi là bạn giai đoạn
những người không theo họ, nhưng cũng không chống họ, nhưng lại chống kẻ thù của
họ.
Những thành phần được VGCS coi như bạn giai đoạn không
nhất thiết phải theo họ, không cần thiết phải biết về chủ thuyết cộng sản của họ,
chỉ cần đừng chống họ, nhưng chống các đoàn thể quốc gia. Trường hợp điển hình,
như Phong Trào Liên Bang Đông Nam Á, một thời hoạt động mạnh tại Pháp, tuy nói
rằng họ không theo CS, nhưng họ lại có một chủ trương rất mập mờ, là liên kết
những người da vàng để chống lại người da trắng. Họ không chịu dùng quốc kỳ
vàng 3 sọc đỏ. Chủ tịch của phong trào này là ông Hoàng Văn Mười, một cái tên rất
lạ đối với người VN chống cộng. Tổng thư ký của phong trào này là cô Trần Thị
Thanh Nga, con gái cố Thượng Nghị sĩ Trần Chánh Thành, tuy không
theo CS, nhưng chị ruột của cô Nga là Trần Thị Ý Hoa, lại là một cán bộ VGCS thứ
dữ. VGCS đả kích các đoàn thể khác, nhưng chưa một lần nào nhắc đến Phong Trào
Liên Bang Đông Nam Á. Cho nên người ta đặc một dấu hỏi lớn về phong trào này, nếu
không phải do VGCS tổ chức thì cũng được VGCS giật dây theo lối bạn giai đoạn.
Chúng ta còn nhớ một phong trào quái dị khác được
thành lập tại Saigon năm 1955 do một số trí thức miền Nam chủ trương gồm có các
ông TRỊNH ĐÌNH THẢO, TRƯƠNG ĐÌNH DZU, LÂM VĂN TIẾT đứng ra thành lập, đó là
Phong Trào Bảo Vệ Hoà Bình. Phong trào này không phải là tổ chức của CS, nhưng
được VGCS ủng hộ và thúc đẩỵ Người ta thấy chủ trương của phong trào này thiên về
CS một cách rõ ràng, chủ trương đó là đòi hỏi những bên ký hiệp định Geneva
1954 phải thi hành những điều khoản ghi trong hiệp định, và họ nhấn mạnh đến điều
khoản tổng tuyển cử 1956. CS Bắc Việt lúc đó cũng cương quyết đòi hỏi Mỹ và Nam
VN phải tổ chức tổng tuyển cử, vì với bộ máy kìm kẹp miền Bắc, thêm vào là hàng
chục ngàn cán bộ được gài vào miền Nam, chắc chắn tổng tuyển cử sẽ mang lại phần
thắng cho VGCS.
Những cá nhân và đoàn thể được VGCS coi là bạn giai đoạn,
bạn nhu cầu, là những cá nhân và đoàn thể thuộc loại vừa kể trên. Nghĩa là những cá nhân, những đoàn thể không phải nhất
thiết phải theo họ, dĩ nhiên, theo họ và phục tùng họ là nhất, nhưng họ cần các
thành phần đó đừng chống đối họ là được. Chủ đích của VGCS khi lôi kéo những
thành phần nầy, trước hết là chỉ để chặt bớt chân tay của địch.
Đối với khối người Việt tị nạn, VGCS cũng áp dụng lối chọn
bạn như họ đã áp dụng trong thời chiến trước đây. VGCS biết rằng, đối diện với thực
tế, họ đang trong thế quá yếu kém so với lực lượng chống cộng hùng hậu của
ngưòi tị nạn, và nhất là đại đa số người tị nạn đều có những mối hận cay đắng với
họ. Do đó, dùng những thủ đoạn bịp bợm, dụ dỗ những thành phần này trở thành
người CS, hoặc thành loại bạn trung kiên của họ là điều họ không hề nghĩ đến.
Điều mà họ nghĩ đến và cố gắng thực hiện, là biến càng nhiều càng tốt những người
chống họ, thành những người không chống ai cả. Bước đi này của VGCS tương tự chủ
trương của họ từ ngàn xưa mà ai cũng đã biết:
"Cái gì của tôi, tôi giữ đến cùng. Cái gì của
anh, chúng ta thương thuyết."
Chính vì thủ đoạn này của VGCS, mà ta thấy có một số người
Việt tị nạn đặt chân lên dất Mỹ năm 1975 với đầy ắp một lòng căm thù VGCS, bỗng
dưng một thời, quên cả thù cũ, ngớ ngẩn tuyên bố:
"Phải no bụng đã mới chống cộng được."
Một số khác, từ căn bản, họ là những người chống cộng,
nhưng chỉ vì một bất mãn cá nhân, quay mặt đi không còn nhìn nhận đoàn thể, bạn
hữu của mình nữa, và cũng được VGCS coi như những người bạn giai đoạn.
C. Cánh hồng 3:
Xâm nhập lũng đoạn.
Giai đoạn nầy là giai đoạn quan trọng nhất của chiến dịch,
vì nó là thành quả của 2 giai đoạn trên, và nhất là một bảo đảm cho giai đoạn
sau. Giai đoạn này thất bại, coi như cả chiến dịch thất bại. Vì thế, VGCS đã điều
nghiên rất kỹ, họ lấy kinh nghiệm cũ, trau dồi thêm phần kỹ thuật mới để áp dụng
kế hoạch trong giai đoạn 3 nầy.
Ta thử nhìn xem, VGCS đã đi như thế nào trong giai đoạn
xâm nhập và gây lũng đoạn.
1- Xâm nhập:
Bài học ôn:
Vào những năm đầu của cuộc tỵ nạn, tức khoảng
1975-1977, CS Hà Nội đánh giá rất thấp tập thể người Việt tỵ nạn trên thế giớị
Họ quan niệm rằng, các đoàn thể của người tỵ nạn hầu hết được lãnh đạo bởi những
người thuộc các thành phần rất bê bối, tham nhũng, nhiều tội ác, dốt nát. Những
người nầy có nói, cũng chẳng ai nghe. Nhận định của Hà Nội không phải hoàn toàn
vô căn cứ, vì thực ra cũng có một số ít người lãnh đạo của một vài hội đoàn, tỏ
ra quá kém cỏi và thiếu hẳn tư cách lãnh đạo. Vài ba hội đoàn nầy, dần dần thấy
biến mất dạng.
Nhưng, vào những năm sau này, khi khí thế đấu tranh của
người Việt lên cao, có tổ chức và được hậu thuẫn của cả tập thể người Việt lẫn
một số quốc gia tự do, lần lượt ra đời, thì Hà Nội bắt đầu chuyển hướng, và mục
tiêu chính của họ tại hải ngoại, không phải chỉ còn nhắm vào lãnh vực chính trị,
kinh tế, ngoại giao nữa, mà đồng thời phải ra sức tiêu diệt tiềm năng đấu tranh
của "bọn tàn dư Ngụy", tức là khối người Việt tỵ nạn. Những hội đoàn
các Cộng Đồng tôn giáo, nhất là Công Giáo, Lực Lượng Thanh Niên Tự Do Âu Châu,
Tổ Chức Người Việt Tự Do, là những hội đoàn được cộng sản chú tâm nhiều nhất.
Việc Hà Nội đưa Hà Văn Lâu sang Mỹ, cũng không ngoài chủ đích tìm cách khuynh đảo
khối người Việt tỵ nạn, như hắn đã làm được tại Thái Lan.
Trước hết, nhìn lại quá khứ đấu tranh suốt 30 năm, ta
thấy VGCS đã chứng tỏ một kỹ thuật xâm nhập và gài người rất tinh vi vào các đoàn
thể, các tôn giáo và ngay cả quân đội. Những trường hợp điển hình mà ta chưa
quên, phải nói vụ Huỳnh Văn Trọng, phụ tá đặc biệt của TT Nguyễn Văn Thiệu. Đây
là một cán bộ VGCS lọt được vào một chức vụ cao nhất thuộc phía hành pháp. Cho đến
nay, sau nhiều năm mất nước, về phía Việt Nam Cộng Hòa, ông Thiệu và ông Đặng
Văn Quang, có lẽ ít ai biết Trọng đã lọt được vào Dinh Độc Lập qua ngả nào (2
quyển sách mới có nói về vụ Huỳnh Văn Trọng, hiện mang quân hàm tướng công an
VGCS). Có người cho rằng, CS Hà Nội dùng tiền, vì vụ đổ bể, một vị đại tá làm việc
trong dinh đã được nghe ông Thiệu quở trách ông Quang và ông Quang trả lời:
"Moa làm tiền cho cả nhóm chứ riêng gì cho cá
nhân moa".
Có người lại cho rằng, chính CIA đã đưa Trọng vào qua
trung gian ông Quang, vì ai cũng biết ông Đặng Văn Quang là tay CIA nặng ký vào
bậc nhất trong số những người VN cộng tác với cơ quan tình báo chiến lược nầy.
Qua ngã nào thì tên cán bộ VGCS nầy cũng đã lọt vào ngồi
bên cạnh ông Thiệu suốt mấy năm trời, và sau nầy người ta chẳng còn ngạc nhiên
gì, khi những kế hoạch tối mật được soạn thảo tại Dinh Độc Lập, chính phủ ông
Thiệu chưa kịp thực hiện thì Hà Nội đã được thông báo đầy đủ. Chẳng hạn như những
dự tính chính trị đưa ra áp dụng tại Hội Nghị Paris năm 1971, Dinh Độc Lập đánh
mật điện cho phái đoàn Việt Nam Cộng Hòa đêm hôm trước để sáng hôm sau trưởng
phái đoàn đưa ra hội nghị Khi VNCH vừa đưa ra, Nguyễn Hữu Thọ đã cười nhạt và hắn
phản pháo không một sơ hở. Kế hoạch đánh chiếm Hạ Lào năm 1972 cũng thế, theo lời
một sĩ quan Tham mưu Lữ đoàn Nhảy dù, thì VGCS đã biết trước tất cả nên chỉ việc
nằm chờ, bao nhiêu sinh mạng chiến sĩ VNCH để lại trên chiến trường một cách
oan uổng. Ông Thiệu phải chịu trách nhiệm trước lịch sử.
Trường hợp chuẩn tướng NGUYỄN HỮU HẠNH, người đã cùng
Dương Văn Minh ra lệnh cho Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa đầu hàng VGCS sáng 30/4/75,
đã bí mật liên lạc với tướng VGCS TRẦN VĂN TRÀ, trong suốt thời gian Trà làm Trưởng
Phái Đoàn Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam tại hội nghị quân sự bốn bên tại Tân Sơn
Nhất, mà không một ai hay.
Cựu dân biểu TRẦN NGỌC CHÂU, lợi dụng bất khả xâm phạm
của một dân biểu, cùng sát cánh với KIỀU MỘNG THU và các "Thày", công
khai đánh phá ta ngay tại Sàigòn, nhưng lại âm thầm thảo kế hoạch và trao tin mật
cho em ruột là Trần Ngọc Hiền, đại úy tình báo VGCS Bắc Việt.
Viet Gian Nguyễn Hữu Hạnh
Đại tá PHẠM NGỌC THẢO, một cựu Trung Đoàn Trưởng CSBV,
giả vờ hồi chánh, bịp cả chế độ đệ I và đệ II Cộng Hoà. Với chức vụ Tỉnh trưởng
Kiến Hoà, Thảo (Tướng TRẦN BẠCH ĐẰNG của VC đã vinh danh và tổ chức truy điệu
cho Thảo năm 1980-81 ở Saigon) đã gây nên không biết bao tội ác tầy trời với
dân chúng, mục đích của Thảo là để gây căm thù giữa dân chúng đối với chính quyền
Việt Nam Cộng Hoà (có lẽ vì vậy mà một số dân Bến Tre theo CS; báo chí ngoại quốc
khi tường thuật về những "tội ác" chỉ biết Thảo là quân nhân của quân
lực VNCH; tên Thảo nầy thật thâm độc;). Thảo bị giết tại Hố Nai năm 1969. Sau
30/4/75, cộng sản cải mộ Thảo và đưa về chôn cất tại nghĩa trang dành riêng cho
tử sĩ cộng sản.\
Trên mặt trận văn hóa, cộng sản đội lốt nhà văn VŨ HẠNH
(mặc dầu cố gắng nhưng vẫn chưa vào đảng được sau 1975; thất chí, Vũ Hạnh không
còn sáng tác như hồi trước 75 nữa), đào Kim Cương, đào tiếng chuông vàng đất Bắc
Kim Chung, là những VGCS nằm vùng và đắc lực cho Hà Nội.
Nhà văn Vũ Hạnh
Linh mục Phan Khắc Từ
Linh mục Phan Khắc Từ (bìa phải) đứng
bên các tăng ni Phật giáo trong một cuộc biểu tình.
Ngoài những tên VGCS nằm im lìm trong các cơ quan chính
quyền, lập pháp cũng như hành pháp, quân đội, văn hóa, báo chí, ta còn thấy những
tên VGCS đội lốt nhà tu, trí thức, chính khách, công khai tiếp trợ cho đồng bọn
dưới nhiều danh nghĩa. Những linh mục PHAN KHẮC TỪ, với khổ nhục kế "Kẻ Hốt
Rác" để nắm thành phần lao động. "Linh mục" NGUYỄN NGỌC LAN, lợi
dụng tự do báo chí để viết sách, viết báo cổ võ chủ thuyết cộng sản, mà ghê gớm
hơn hết là cuốn "Đường Hay Lô Cốt?". Linh mục TRƯƠNG BÁ CẦN (nay lòi
ra là linh mục quốc doanh ở Saigon), luôn luôn dùng tòa giảng để kêu gọi chấm dứt
chiến tranh (theo đường lối CS, nghĩa là Mỹ phải rút, miền Nam phải buông
súng). Những tên VGCS đội lốt nhà sư: THÍCH ĐÔN HẬU, THÍCH MINH CHÂU, THÍCH
NHẤT HẠNH, sư cô HUỲNH LIÊN, là những tên VGCS ồn ào nhất, chính những tên VGCS ngụy
trang nhà tu nầy đã chủ trương đưa bàn thờ Phật xuống đường, rồi ngồi chắn trên
cầu Gia Hội, An Cựu tại Huế, không cho quân đội tiếp viện, chính vì thế mà các
đơn vị thuộc sư đoàn I Bộ binh tại An Lộ bị thiệt hại nặng nề vào đầu tháng
4/1966 vì không được tiếp viện.
Ngoài các tên VGCS đội lốt nhà tu vừa kể, người Việt Nam
không thể nào quên được những tên trí thức ăn cơm quốc gia từ đời cố nội ngoại
của họ, nhưng vẫn ngu xuẩn vùi đầu đứng trong hàng ngũ kẻ thù trong cuộc chiến
tàn bạo giết hại bao người trong 30 năm. Điển hình hơn hết là bọn Hội Đồng Nhân
Dân Cứu Quốc tại Huế với các tên LÊ KHẮC QUYỂN, VĨNH KHA, HOÀNG PHỦ NGỌC TƯỜNG,
LÊ TUYÊN, HOÀNG VĂN GIÀU. Giữa lúc bọn "Cứu Quốc" hoành hành tại
Huế, thì tại Saigon, đồng minh của họ cũng múa lên một nhịp bài hát "Cứu
Quốc" do các tên nằm vùng Huỳnh Tấn Mẫm, Cao Thị Liên, Lý Quí Chung, Lý
Chánh Trung, Hồ Ngọc Nhuận, Kiều Mộng Thu, Trần Ngọc Châu, "linh mục"
Nguyễn Ngọc Lan...
Nhìn lại thế cờ bố trí trên mặt trận xâm nhập của CS
Hà Nội tại miền Nam trong quá khứ, người quốc gia hải ngoại ngày nay không thể
không cảnh giác. Cảnh giác để không bước vào trong dĩ vãng, để đến nỗi một tên
VGCS nằm ngay trong cơ quan đầu não tối cao của quốc gia mà vẫn không hay biết. Một
tên nằm vùng trong làng báo chí suốt 15 năm mà không hề bị lộ tông tích. Những
cố vấn, những phụ tá, những thầy tu nằm vùng đó hiện nay không thiếu gì trong
hàng ngũ người Việt tỵ nạn hải ngoại.
Bài học mới:
Những bước căn bản được soạn thảo cho kế hoạch xâm nhập
thời chiến, VGCS vẫn giữ nguyên để áp dụng cho kế hoạch xâm nhập hàng ngũ
quốc gia tại hải ngoại. Nghĩa là có những tên lính tiên phong đóng vai tu hành,
học giả, sinh viên, nhà buôn và một số những người Việt không có kinh nghiệm,
được gài vào hàng ngũ tỵ nạn. VGCS chỉ thay đổi mục tiêu, để thay vì đích thân đứng
ra tổ chức những cuộc khuynh đảo, họ đã dùng những phần tử trên để gây lũng đoạn
chia rẽ, phá nát hàng ngũ ta, hầu tru diệt một chướng ngại vật và tránh hậu hoạ
trong tương lai.
Trước hết về mặt chìm, ta thấy VGCS len lõi, bố trí người
của họ ngay quanh ta. Những tên sinh viên du học trước đây, nay là những nhà
khoa bảng đóng vai cố vấn, phối trí cho một vài đoàn thể quốc gia, lâu lâu tổ
chức Tuần Lễ Văn Hóa, nói là thuần túy văn hóa nên không trương cờ quốc gia
nào. Những hội đoàn này, có một vài nơi mới được thành lập, nhưng cũng có một
vài nơi, họ tách từ các hội đoàn quốc gia chính ra để thành lập hội đoàn khác.
Ta cũng thấy ít lâu nay, những bàn tay vô hình đã đi thu lại các chương trình
truyền hình tuyên truyền cho CS, như Vietnam: a History", The First
Complete Account, The Ten Thousand Day War,..., những cuốn phim video nầy được
chuyền tay cho đồng bào xem miễn phí. Ai đã bỏ công ra thu, ai đã chi tiền để
thu? Người thơ ngây đến đâu cũng trả lời được xuất xứ của việc làm nầy. Một số
người quốc gia cũng biết thế, nhưng vì tò mò, nên vô tình cứ tiếp tay cho kẻ
thù.
Những chiến dịch thư nặc danh bôi bẩn những người quốc
gia, hạ danh thế những nhà lãnh đạo tôn giáo, gây chia rẽ giữa các hội đoàn chống
cộng. Những chiến dịch tuyên truyền rỉ tai, phao tin đồn nhảm nhắm đích danh một
số người lãnh đạo đoàn thể quốc gia tôn giáo.
Những tổ chức du đãng, buôn lậu, giết người, hành động
phi pháp, để gây tiếng xấu cho tập thể người quốc gia tỵ nạn.
Tất cả những hành động được thúc đẩy bởi những bàn tay
vô hình, ném đá giấu tay đó, không ai khác hơn là những tên VGCS chìm. Đến đây ta
lại nhớ vụ xích mích Phật giáo và Công giáo đã xảy ra tại Saigon năm 1964. Mấy
tháng sau vụ đảo chánh 1963, Phật giáo và Công giáo trải qua thời kỳ rất căng
thẳng tạo nên do những ngộ nhận. Một toán đặc công cộng sản đã dùng một chiếc
xe Lam ba bánh có gắn loa, chạy đến khu Vạn Hạnh kêu gọi Phật tử phải đến ngay
chùa Ấn Quang để giải cứu các Thầy, vì có bọn Công giáo quá khích dang vây và đập
phá chùạ Chiếc xe Lam đó, lại chạy đến khu ngã ba Ông Tạ là nơi có đông đảo người
Công giáo di cư, kêu gọi đồng bào Công giáo phải lên ngay toà báo Xây Dựng (báo
Công giáo) để cứu cha Nguyễn Quang Lâm và các cha, vì có bọn Phật tử Ấn Quang
đang phá nhà thờ Huyện Sĩ và đốt tòa báo Xây Dựng. Một cuộc ẩu đả bằng dao và gậy
gộc, súng nhỏ đã xảy ra tại cả 2 nơi Ấn Quang và nhà thờ Huyện Sĩ giữa thanh
niên Công giáo và và thanh niên Phật tử. Cuộc ẩu đả diễn ra trong một ngày, làm
hàng trăm thanh niên đôi bên bị thương. Cảnh sát đặc biệt đã bắt được chiếc xe
Lam cùng ngày và gồm luôn cả 4 tên đặc công VGCS chủ trương, tránh cho Saigon một
cuộc Thánh chiến, mà hậu quả không thể lường được.
Về mặt nổi, VGCS xâm nhập và đang tổ chức những hội
đoàn, hoặc lấy chính danh là đoàn thể CS, hoặc ẩn núp dưới một danh nghĩa khác.
Những hội như Hội Việt Kiều Hải Ngoại, Hội Các Nhà Văn, Hội Truyền Thanh Truyền
Hình, Hội Phật Tử Hải Ngoại, Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Tự Trị, là những hội
do CS tạo nên làm điểm tựa cho thế đứng của họ tại nước ngoài.
Gây lũng doạn:
Xâm nhập được hàng ngũ địch bằng nhiều cách, dưới nhiều
hình thức, hoạt động bên địch với nhiều danh hiệu khác nhau, VGCS mới có thể tìm
được đất đứng, tạo được vị trí hành động. VGCS bước thêm bước nữa trong giai đoạn
của Cánh Hồng 3 nầy, đó là lũng đoạn, là gây chia rẽ giữa người quốc gia
với nhau.
Những hình thức bôi bẩn do VGCS chủ trương, hoặc xúi dục
người quốc gia chủ trương bôi bẩn lẫn nhau, xảy ra nhan nhản khắp nơi tại
Oregon, tại Louisiana, tại Washington và nhiều nơi khác toàn nước Mỹ, đã đôi
khi làm người quốc gia nản chí, nhất là khi biết chắc những đòn hạ nhục đó, do
chính anh em, bạn hữu cùng một chiến tuyến với nhau, mà chỉ vì óc tị hiềm, tự
ái cá nhân, bất bình, đã vô tình lọt đúng vào bước tiến gây lũng đoạn của VGCS nhằm
vào hàng ngũ quốc gia.
D. Cánh hồng 4: Xây Dựng:
Trong cuộc chiến gần 40 năm, chưa có một tên VGCS nào
thành công trên lãnh vực khuynh đảo bằng viên Đại tá Hà Văn Lâu.
Hà Văn Lâu sinh năm 1918 tại Huế, con trai Tuần phủ Hà
Văn Ngoạn là Hội viên của Hội Liên Hiệp Pháp. Hà Văn Lâu nguyên là viên sĩ quan
mật thám quân đội Pháp, đào ngũ theo Việt minh năm 1945 và được Võ Nguyên Giáp
giao ngay trọng trách gián điệp, tình báo trong quân độị Hà Văn Lâu trở thành đảng
viên thực thụ CS năm 1950, và trở thành một sĩ quan tình báo chiến lược của Bộ
Chính Trị Trung Ương Đảng. Hà Văn Lâu lập được rất nhiều công đối với VGCS, mà
một trong những công lao đó là khuynh đảo để nắm được vào khoảng 60,000 Việt kiều
tại Thái Lan, tạo một hậu thuẫn rất mạnh về chính trị và quân sự cho CS suốt cuộc
chiến Việt Nam. Người ta sang Thái Lan về đều ngao ngán, vì thấy Toà Đại sứ Việt
Nam Cộng Hoà không làm gì để phổ biến chính nghĩa, trong khi VGCS phản quốc, lừa
bịp được Việt kiều, bằng cớ, là hầu hết các gia đình bên đó đều treo hình Hồ
Chí Minh. Trong các lễ của CS. VGCS tổ chức Việt kiều tham gia đông đảọ Một số nhỏ
những gia đình người quốc gia sống rất cô đơn, một số khác nêu cao chính nghĩa
quốc gia liền bị giết.
Bài học thành công về Việt kiều tại Thái Lan là bài học
rất quí đối với VGCS, cho nên Hà Nội đã vội đưa Hà Văn Lâu sang Mỹ thay Đinh Bá
Thi với một giấc mơ, là cũng biến đổi một triệu người Việt tị nạn thành khối
người như Việt kiều ở Thái Lan. Nhưng VGCS cũng biết rằng, khối người VN một triệu
nầy, không phải 60,000 Việt kiều Thái Lan, vì thế, VGCS đã phải mang cả một bộ
tham mưu chuyên về tình báo và khuynh đảo như đã trình bày ở đoạn I và CS đã phải
tung nguyên một chiến dịch gọi là Hoa Hồng Đỏ để thực hiện cho được mặt trận
đánh thẳng vào khối người Việt tị nạn. VGCS chưa thành công, bằng cớ là sau chín
năm với từng bước tiến (từng cánh hồng), VGCS tỏ Ra còn quá yếu ớt so với thực lực
của khối quốc giạ Nhưng đừng vội nghĩ rằng VGCS đã thua cuộc. Qua bao kinh nhiệm,
ta thấy kẻ bỏ cuộc trước chính là phe Tự Do, phe Quốc Gia, chứ không phải VGCS.
Nhất là hiện nay, tình trạng phân hóa giữa người Quốc Gia hải ngoại vẫn còn trầm
trọng; nghĩa là chúng ta vẫn còn tạo môi trường để vi trùng CS có thể sống và
phát triển.
Cánh hồng 4, hay giai
đoạn Xây Dựng của VGCS đã bắt đầu, nhưng VGCS không hề đặt thời điểm phải hoàn tất.
Điều nầy có nghĩa là họ sẽ "đánh trường kỳ". Tài liệu học tập đã ghi
rõ, đối tượng xây dựng chính của họ là thế hệ thứ 2, tức là lứa tuổi đang lớn
lên, chưa có một ý niệm gì về CS, chưa bị nếm mùi cay đắng nào từ CS ( VGCS giả vờ
che đậy cho những việc làm tàn bạo trong quá khứ bằng cách nói là họ làm sai và
"những con nai vàng ngơ ngác" tin là VGCS cũng là những kẻ biết
"hướng thiện"). VGCS đã tập trung được cán bộ, từ cấp tiểu bang, thành
phố, mà họ gọi là "đường giây 3 cụm chiến lược" (tức Trung tâm
Waterside Plaza, nơi phái đoàn Hà Văn Lâu đặt bản doanh, các tiểu bang và thành
phố). VGCS móc nối hệ thống những tổ chức và cá nhân yểm trợ họ. VGCS xâm nhập các
tổ chức và đoàn thể ta để gây lũng đoạn.
Giai đoạn 4 được phát động, nếu họ thành công, có nghĩa
là người quốc gia phải đối đầu, không phải từ hệ thống cán bộ, từ những thành
phần yểm trợ, mà ngay từ tập thể, có khi ngay từ gia đình (người trẻ non dạ
không tin lời cha mẹ kể về những kinh nghiệm với VGCS). Người quốc gia chúng ta sẵn
sàng chấp nhận cuộc đấu trước khi tình trạng quá muộn chưa?
THAY LỜI KẾT:
Người CS luôn mang trong người hai thứ võ khí: bản
kinh chiều êm ái, nhẹ nhàng. khi cất lên có tác dụng làm người nghe đi dần vào
một giấc ngủ miên man. Và một con dao bén nhọn, giết người rất nhanh.
Hai thứ võ khí nầy, được người CS xử dụng trong một kết
hợp vô cùng nhịp nhàng, uyển chuyển. Có những trường hợp cần phải cất lên bản
kinh, chờ cho đối phương mê ngủ, rồi bất thần đưa lưỡi dao đi một đường ngọt xớt
vào giữa tim đối phương. Có những trường hợp bản kinh và lưỡi dao cùng được hoà
nhịp một lượt. Cũng có những trường hợp người CS chủ quan, xử dụng lưỡi dao mà
không cất lên bản kinh, bị chặn lại, họ tức khắc rút dao về, bản kinh lại được
cất lên, chờ cho đối phương mê ngủ, họ mới hạ thủ.
Việt Nam, với bản kinh chiều được NHẤT CHI MAI (một nữ
Phật tử, ngây thơ hay cố ý thiên tả, tự thiêu để đòi hoà bình theo kiểu CS;
theo đó phong trào của Nhất Chi Mai muốn miền Nam phải "trở về với
"dân tộc" tức là với CS") cất lên qua lời cầu thống thiết, vào
đúng lúc phần thắng trong cuộc chiến đang nghiêng về phía quốc gia:
"Hãy sống dùm tôi, hãy thở dùm tôi, quả tim nầy
dành cho thù hận, cho hoà bình".
Bản kinh HOÀ BÌNH của Nhất Chi Mai được kết thúc bằng
cái chết tự thiêu của cô cho Hoà Bình giữa lòng thủ đô Sàigòn đã được những
McGovern, Kennedy, Coretta King, Jane Fonda, KIỀU MỘNG THU, TRẦN NGỌC CHÂU, THƯỢNG
TỌA THÍCH TRÍ QUANG, LINH MỤC PHAN KHẮC TỪ, BÀ NGÔ BÁ THÀNH đồng loạt phụ xướng,
và đã lừa được dư luận Mỹ. Không một chần chờ, Hà Nội rút lưỡi dao khỏi bao đi
một đường lút cán ngay giữa trái tim Nam Việt Nam. Thế giới sử đã ghi lại, hôm
đó là ngày 30/4/1975, lúc 10 giờ sáng. Bản khai tử của Việt Nam Tự Do hiện còn
lưu trữ tại Toà Bạch Ốc, Washington. D.C., Hiệp Chủng Quốc Hoa Kỳ. Bản sao được
trao cho điện Kremlin tại Mạc Tư Khoạ, nước Nga Xã Hội Chủ Nghĩa Liên Bang Sô
Viết.
Sau một thập niên kể từ ngày Việt Nam Cộng Hoà bị bức
tử, không phải không có những người đã thức tỉnh; Michael Novak, tác giả cuốn sách
phản chiến nhất nước Mỹ: cuốn "Vietnam: a crisis of conscience".
Joan Baez, người đã cùng Jane Fonda, ca ngợi Hồ Chí Minh như một Washington Việt
Nam. Gần đây hơn, hai nữ bác sĩ VN trên 20 tuổi đảng. cháu ruột của tên trùm đỏ
Đặng Xuân Khu, là bác sĩ Đặng Kim Thoa và bác sĩ Đặng Kim Thu, đã giã từ thiên
đường CS, trốn sang Phi Châu tìm tự do.
Nhưng, một thập niên, thời gian vẫn chưa đủ. Và những
chứng tích: South Yemen, Ethiopia, Mozambique, Việt Nam, Lào, Cam Bốt, Congọ cũng
chưa đủ cho một số người thức tỉnh, trong đó có một số người Việt tị nạn. Cho
nên mới có những hiện tượng những hiện tượng Thích Nhất Hạnh, linh mục Trần Tam
Tỉnh.
Không muốn hiểu CS hay không hiểu CS là quyền của những
người ngây thơ, dại dột. Quyền của những đồng minh chơi với bạn theo nhu cầu
giai đoạn, giúp bạn theo phong cách của một Thái Thú. Quyền của những người
mang tị hiềm vô lý, mặc cảm cá nhân, bất đồng nhỏ mọn.
Nhưng, người quốc gia chân chính, những nạn nhân trực
tiếp của suốt 40 năm bịp bợm, lừa dối, gian manh từ người CS không có cái quyền
đó. Cái quyền mà người quốc gia có là quyền tỉnh thức để không bị ru ngủ bởi bản
kinh chiều.
Cảnh giác để khỏi bước vào cái bẫy "dùng bạn của
địch đánh địch, dùng địch đánh địch, chia địch để địch bị cô lập và tự diệt".
Chưa tìm được cho mình những cái quyền đó, thì đừng nói đến kết đoàn, và nhất
là đừng ôm hoài bão dành lại phần đất và tất cả những gì CS đã trắng trợn cướp
khỏi tay ta.
Lời nói cuối:
Những lời cảnh cáo nói trên tưởng cũng quá đủ.
Ngoài ra, bài báo nầy còn cho ta thấy một quá khứ đầy
sai lầm của những người, vì non kinh nghiệm về chính trị hơn VGCS hay vì bị lừa dối
bởi những phần tử CS hay thân cộng, đã nhiều khi hy sinh thân mình đem đất miền
Nam hiến vào tay VGCS. Người chiến sĩ của VNCH quá là tội nghiệp, họ chết vì nhiều
viên đạn không phải từ kẻ thù ngoài mặt trận mà từ vài huynh đệ chi binh và từ
vài người ở hậu phương thiếu sáng suốt bắn ra. Kết quả lại phải vào tù ra khám
khi miền Nam sụp đổ. Sau đó, hậu phương nầy cũng bị "dần" cho te tua
mà một số phải chạy bán sống bán chết và bị người anh em CS khinh bỉ, gia đình
thì tan nát, không thể nào gầy dựng lại được nữa. Hàng trăm ngàn người bị chìm
sâu dưới đáy biển, một số lớn may mắn hơn tìm được bến bờ và phải nhoi lên vô
cùng vất vả tạo lại cuộc sống từ con số không.
Đây là những kinh nghiệm đau thương, được trả bằng máu
và nước mắt. Chúng cho thấy, chúng ta đang đương đầu với "những người
CS" đầy kinh nghiệm chứ không phải là những người VN thân thương chân
chính. Mỗi người đại diện của VGCS mà ta gặp trong và ngoài nước phải được xem là
những tay tình báo giỏi và vô cùng lão luyện về chính trị. Tôi có đọc ở đâu đó
là nhà ngoại giao của VGCS hay nói trắng ra ông đại sứ phải là tay gián điệp thượng
thặng của họ. Dĩ nhiên những nhân viên của ông ta cũng thế.
Ta đang nói về những người tôn thờ đảng và chỉ có đảng
mà thôi. Tất cả những liên hệ với họ đều không ít thì nhiều dĩ nhiên là có lợi
cho họ, hay ít ra không thiệt hại gì cho họ cả. Ta cũng biết rõ ràng ta cũng là
những con mồi ngon của họ và họ sẽ "thấu cáy" lúc nào cũng được. Vậy,
một lời khuyên, hãy tỉnh thức mà dọn đường sẵn để "rút dù" trong an
toàn nếu có "chung chạ" với họ. Nếu không thì uổng một đời vì chơi với
VGCS không phải là trò đùa, mà là "một trò chơi vô cùng nguy hiểm và nguy hiểm".
Ý thức hệ của CS không cho phép những người "nửa
nạc nửa mỡ" sống chung với họ lâu dài. Nghĩa là, sau một thời gian, phải
nhập về bên họ hay sẽ bị quăng đi khi nhu cầu không còn cần thiết nữa. Chuyện
quá khứ đã bày ra đó, đừng nên bỏ ngoài tai. Bằng cấp dù cao tột bực tới đâu cũng
không cứu vãn nổi thân phận, nếu như ít để ý tới chính trị của CS. Vì nghĩa đồng
bào xin được bàn vài câu chói tai, nhưng chúng không phải chỉ được dựa trên
chuyện hão huyền.
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)


















